Cơ thể là gì lấy 5 ví dụ? Bạn tìm kiếm thông tin về . Kỵ Sĩ Rồng tổng hợp thông tin từ nhiều nguồn. Hi vọng sẽ hữu ích với bạn. Nào chúng ta bắt đầu thôi

 89 ngôn ngữ

  • Các
  • Tiếng Mã Lai
  • Tiếng Anh
  • người Tây Ban Nha
  • Tiếng Hindi
  • Tiếng Punjabi
  • Tamil
  • ا
  • người Trung Quốc

Cơ thể con người

Wikipedia, bách khoa toàn thư miễn phí  Bài viết này đề cập đến chủ đề giới tính và giáo dục giới tính. Thông tin trong tài liệu này có thể   không   phù hợp với một số đối tượng nhất định hoặc nếu có ở những nơi công cộng. Wikipedia không chịu trách nhiệm về nội dung có thể không phù hợp với một số người xem, hãy xem Wikipedia: Từ chối trách nhiệm về nội dung để biết chi tiết.

Cơ thể con người   là toàn bộ cấu tạo của con người, bao gồm đầu, cổ, thân (chia làm 2 phần: ngực và bụng), hai tay và hai chân. Mỗi bộ phận của cơ thể được tạo thành từ hàng nghìn loại tế bào khác nhau. [1]   Ở tuổi trưởng thành, cơ thể con người có số lượng tế bào ước tính là 3,72 × 10   13   . [2]   Các số liệu được đưa ra dưới dạng dữ liệu chưa đầy đủ được sử dụng làm điểm khởi đầu cho các tính toán tiếp theo. Con số này có được bằng cách tính tổng số tế bào ở tất cả các cơ quan trong cơ thể của tất cả các loại tế bào. [3]  Cấu tạo của cơ thể con người bao gồm một số nguyên tố nhất định với tỷ lệ khác nhau.

Nghiên cứu về cơ thể con người xoay quanh giải phẫu và sinh lý học. Cơ thể con người có thể có những biểu hiện bất thường về cấu trúc không đáng kể về mặt bệnh lý nhưng cần được nhận biết. Sinh lý học tập trung vào các hệ thống và cơ quan trong cơ thể con người và các chức năng của chúng. Nhiều hệ thống cơ quan và cơ chế tương tác với nhau để duy trì cân bằng nội môi. Tổng quan về cơ thể con người [sửa | chỉnh sửa mã nguồn]

Cấu trúc chính [sửa | chỉnh sửa mã nguồn]

Cơ thể con người được bao phủ bởi một lớp da. Trên da có nhiều sợi lông to nhỏ không đều nhau. Da chứa các mạch máu, đầu dây thần kinh và tuyến mồ hôi. Da có tác dụng bảo vệ các cơ quan trong cơ thể khỏi những tác động có hại của môi trường bên ngoài và giúp thân nhiệt luôn ổn định. Dưới da là lớp mỡ, dưới lớp mỡ là cơ và xương. Cơ bắp tạo nên hình dạng bên ngoài của cơ thể và xương tạo thành bộ khung bảo vệ cơ thể và các cơ quan nội tạng.

Các bộ phận cơ thể [sửa | chỉnh sửa mã nguồn]

Thông tin thêm: Giải phẫu người Hình  ảnh giải phẫu chi tiết của một bên   đầu   cho thấy rõ động mạch cảnh ngoài và các dây thần kinh của da đầu, mặt và bên cổ.

Các bộ phận cơ thể, còn được gọi là khoang cơ thể, là không gian trong cơ thể chứa và bảo vệ các cơ quan và hệ thống cơ quan, bao gồm:

  • Khoang sọ và ống sống:   là những khoang xương chứa não và tủy sống bảo vệ chặt chẽ những bộ phận quan trọng này của hệ thần kinh.
  • Khoang ngực:   là một không gian giới hạn trong khung xương sườn, phía trên cơ hoành, ngăn cách nó với khoang bụng. Chính trong khoang này có các bộ phận chính của hệ tuần hoàn và hô hấp như tim, hai lá phổi (ngoài ra còn có một bộ phận của hệ tiêu hóa chui qua khoang này là thực quản).
  • Khoang bụng:   Nằm bên dưới cơ hoành, là khoang cơ thể lớn nhất. Khoang này chứa gan, ruột, dạ dày, thận, tử cung (ở phụ nữ)… là những cơ quan thuộc hệ tiêu hóa, hệ bài tiết và hệ sinh sản.

Hệ thống cơ quan [sửa | chỉnh sửa mã nguồn]

Bộ xương người nhìn từ phía trước  Hệ tiêu hóa của con người

Verschiedene Organe mit gleicher Funktion bilden ein Organsystem . Es gibt viele Organsysteme im Körper, aber die wichtigsten sind: das motorische System , das Kreislaufsystem , das Atmungssystem , das Verdauungssystem , das Ausscheidungssystem , das Nervensystem , das endokrine System und das Urogenitalsystem .

  • Hệ vận động: gồm bộ xương và hệ cơ. Cơ thường bám vào hai xương khác nhau nên khi cơ co làm cho xương cử động, giúp cho cơ thể di chuyển được trong không gian, thực hiện được các động tác lao động
  • Hệ tuần hoàn: gồm có tim và các mạch máu (động mạch, tĩnh mạch và mao mạch), có chức năng vận chuyển các chất dinh dưỡng, oxy và các hoóc môn đến từng tế bào và mang đi các chất thải để thải ra ngoài
  • Hệ hô hấp: gồm có mũi, hầu, thanh quản, khí quản, phế quản và phổi, có nhiệm vụ đưa oxy trong không khí vào phổi và thải khí cac-bô-nic ra môi trường ngoài
  • Hệ tiêu hóa: gồm có miệng, thực quản, dạ dày, gan, ruột non, ruột già, hậu môn và các tuyến tiêu hóa. Hoạt động của hệ tiêu hóa làm thức ăn biến đổi thành các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể và thải chất bã ra ngoài
  • Hệ bài tiết: gồm 2 quả thận, ống dẫn nước tiểu và bóng đái. Thận là cơ quan lọc từ máu những chất thừa và có hại cho cơ thể để thải ra ngoài. Trong da có các tuyến mồ hôi cũng làm nhiệm vụ bài tiết
  • Hệ thần kinh: gồm não bộ, tủy sống và các dây thần kinh, có nhiệm vụ điều khiển sự hoạt động của tất cả các cơ quan, làm cho cơ thể thích nghi với những sự thay đổi của môi trường ngoài và môi trường trong. Đặc biệt ở người, bộ não hoàn thiện và phát triển phức tạp là cơ sở của mọi hoạt động tư duy
  • Hệ nội tiết: gồm các tuyến nội tiết như tuyến yên, tuyến giáp, tuyến tụy, tuyến trên thận và các tuyến sinh dục, có nhiệm vụ tiết ra các hoóc môn đi theo đường máu để cân bằng các hoạt động sinh lý của môi trường trong cơ thể nên có vai trò chỉ đạo như hệ thần kinh
  • Hệ sinh dục: là hệ cơ quan có chức năng sinh sản, duy trì nòi giống ở người. Người phân tính nên cơ quan sinh dục có phân hóa thành tinh hoàn ở nam và buồng trứng ở nữ. Thông qua hoạt động tình dục mà sản phẩm của tinh hoàn và buồng trứng gặp nhau để tạo hợp tử rồi đến thai nhi, bắt đầu thời kì mang thai ở người mẹ

Sự phối hợp hoạt động của các hệ cơ quan[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ thể là một khối thống nhất. Sự hoạt động của các cơ quan trong một hệ cũng như sự hoạt động của các hệ cơ quan trong cơ thể đều luôn luôn thống nhất với nhau. Ví dụ: khi chạy, hệ vận động làm việc với cường độ lớn. Lúc đó, các hệ cơ quan khác cũng tăng cường hoạt động, tim đập nhanh và mạnh hơn, mạch máu dãn (hệ tuần hoàn), thở nhanh và sâu (hệ hô hấp), mồ hôi tiết nhiều (hệ bài tiết),… Điều đó chứng tỏ các hệ cơ quan trong cơ thể có sự phối hợp hoạt động. Các cơ quan trong cơ thể có một sự phối hợp hoạt động nhịp nhàng, đảm bảo tính thống nhất. Sự thống nhất đó được thực hiện nhờ sự điều khiển của hệ thần kinh (cơ chế thần kinh) và nhờ dòng máu chảy trong hệ tuần hoàn mang theo các hooc-môn do các tuyến nội tiết tiết ra (cơ chế thể dịch).

Xem thêm:  Thu nhập chịu thuế là gì là gì

Tế bào cơ thể người[sửa | sửa mã nguồn]

Một tế bào cơ thể người (động vật) điển hình gồm: (1) nhân con, (2) nhân, (3) ri-bô-xôm, (4) túi tiết, (5) lưới nội chất hạt, (6) bộ máy Gôn-gi, (7) khung xương tế bào, (8) lưới nội chất trơn, (9) ti thể, (10) không bào, (11) chất tế bào, (12) lizosome, (13) trung thểBài chi tiết: Tế bào

Cấu tạo và chức năng các bộ phận trong tế bào[sửa | sửa mã nguồn]

Tất cả các cơ quan ở người đều cấu tạo bằng tế bào. Cơ thể người có số lượng tế bào rất lớn khoảng 75 nghìn tỉ (75 × 10¹²). Có nhiều loại tế bào khác nhau về hình dạng, kích thước và chức năng. Có tế bào hình cầu (tế bào trứng), hình đĩa (hồng cầu), hình khối (tế bào biểu bì), hình nón, hình que (tế bào võng mạc), hình thoi (tế bào cơ), hình sao (tế bào thần kinh — nơ-ron), hình sợi (tóc, lông) hoặc giống các sinh vật khác (bạch cầu, tinh trùng),… Có tế bào dài, ngắn, có tế bào lớn, bé khác nhau và chức năng của các tế bào ở các cơ quan cũng khác nhau, ngay cả ở trong cùng một cơ quan cũng khác nhau. Tế bào lớn nhất là tế bào trứng, có đường kính khoảng 100 μm (0,1 mm), bằng 175.000 lần tinh trùng – tế bào nhỏ nhất; dài nhất là tế bào thần kinh (nơ-ron). Mặc dù khác nhau về nhiều mặt nhưng loại tế bào nào cũng có 3 phần cơ bản: màng sinh chất, chất tế bào và nhân.

Các bộ phận Các bào quan Cấu tạo và chức năng
Màng sinh chất Là lớp ngoài của tế bào đặc lại, được cấu tạo từ protein và lipid, có nhiệm vụ thực hiện trao đổi chất với môi trường quanh tế bào
Chất tế bào Nằm trong màng tế bào, gồm nhiều bào quan và chất phức tạp, là nơi diễn ra những hoạt động sống của tế bào. Các bào quan chính là lưới nội chất, ti thể, ribosome, bộ máy Gôn-gi, trung thể
Lưới nội chất Là một hệ thống các xoang và túi dẹp có màng, có thể mang các ribosome (lưới nội chất hạt) hoặc không (lưới nội chất trơn). Đảm bảo mối liên hệ giữa các bào quan, tổng hợp và vận chuyển các chất
Ri-bô-xôm Gồm hai tiểu đơn vị chứa rRNA (RNA ri-bô-xôm), đính trên lưới nội chất hạt hoặc trôi trong bào tương (ri-bô-xôm tự do), là nơi diễn ra tổng hợp prô-tê-in
Ti thể Gồm một màng ngoài và màng trong gấp nếp tạo thành mào chứa chất nền, tham gia hoạt động hô hấp giải phóng năng lượng, tạo ATP (a-đê-noxyn tri-phốt-phát)
Bộ máy Gôn-gi Là một hệ thống các túi màng dẹt xếp chồng lên nhau, có các nang nảy chồi từ chồng túi, thu nhận, hoàn thiện, phân phối, tích trữ sản phẩm.
Trung thể Là một trung tâm tổ chức các ống vi thể, gồm hai trung tử xếp thẳng góc, xung quanh là chất vô định hình, tham gia vào quá trình phân chia tế bào.
Nhân Hình bầu dục hoặc hình cầu, bên ngoài có màng nhân bao bọc, trong nhân có dịch nhân và nhiều nhân con giàu RNA (a-xit ri-bô-nu-clê-ic), là nơi điều khiển mọi hoạt động sống của tế bào
Chất nhiễm sắc Nằm trong dịch nhân. Ở một giai đoạn nhất định, khi tập trung lại làm thành nhiễm sắc thể, chứa DNA (a-xit đê-oxy-ri-bô-nu-clê-ic) đóng vai trò di truyền của cơ thể
Nhân con Chứa rRNA (RNA ri-bô-xôm) cấu tạo nên ri-bô-xôm

Thành phần hóa học của tế bào[sửa | sửa mã nguồn]

Tế bào gồm một hỗn hợp phức tạp gồm nhiều chất hữu cơ và các chất vô cơ. Các chất hữu cơ chính là prô-tê-in, glu-xit, lipid.

  • Prô-tê-in, hay còn gọi là chất đạm, là một chất phức tạp gồm có cac-bon (C), hi-đrô (H), oxy (O), ni-tơ (N), lưu huỳnh (S) và một số nguyên tố khác. Phân tử của prô-tê-in rất lớn, chứa đến hàng nghìn các nguyên tử nên thuộc vào loại đại phân tử. Prô-tê-in là thành phần cơ bản của cơ thể, có trong tất cả các tế bào.
  • Glu-xit, hay còn gọi là chất đường bột, là những hợp chất loại đường và bột. Nó gồm có C, H và O trong đó tỉ lệ giữa H và O luôn là 2H ÷ 1O. Trong cơ thể, glu-xit ở dưới dạng đường glu-cô-zơ (có ở máu) và gli-cô-gen (có ở gan và cơ).
  • Lipid, hay còn gọi là chất béo, có ở mặt dưới da và ở nhiều cơ quan, nó cũng gồm 3 nguyên tố chính là C, H, O nhưng tỉ lệ của các nguyên tố đó không giống như glu-xit. Tỉ lệ H ÷ O thay đổi tùy loại lipid. Lipid là chất dự trữ của cơ thể.
  • A-xit nu-clê-ic (DNA hay RNA) chủ yếu có trong nhân tế bào. Cả hai loại này đều là các đại phân tử, đóng vai trò quan trọng trong di truyền.

Ngoài các chất hữu cơ nói trên, trong tế bào còn có các chất vô cơ là muối khoáng.

Hoạt động sống của tế bào[sửa | sửa mã nguồn]

Hoạt động sống của tế bào biểu hiện ở quá trình đồng hóa và dị hóa, sinh sản và cảm ứng, sinh trưởng và phát triển.

  • Mỗi tế bào sống trên cơ thể luôn luôn được cung cấp các chất dinh dưỡng do dòng máu mang đến và luôn luôn xảy ra quá trình tổng hợp nên các hợp chất hữu cơ phức tạp từ những chất đơn giản được thấm vào trong tế bào. Đồng thời trong tế bào cũng luôn xảy ra quá trình phân giải các hợp chất hữu cơ thành những chất đơn giản và giải phóng năng lượng cần thiết cho cơ thể. Quá trình tổng hợp và phân giải các chất hữu cơ trong tế bào gọi là quá trình đồng hóa và dị hóa. Đó là hai mặt cơ bản trong quá trình sống của tế bào.
  • Tế bào có khả năng sinh sản và cảm ứng. Sự sinh sản của tế bào là khả năng phân chia trực tiếp hoặc gián tiếp để tạo nên những tế bào mới. Sự cảm ứng là khả năng thu nhận và phản ứng trước những kích thích lý, hóa học của môi trường quanh tế bào.
  • Ở cơ thể trẻ em và thanh niên, các tế bào sinh sản nhanh chóng làm cho cơ thể sinh trưởng và phát triển. Ở người trưởng thành quá trình này vẫn tiếp tục nhưng thường chậm lại.

Trong quá trình sống nhiều tế bào chết đi và được thay thế bằng các tế bào mới.

Mô cơ thể người[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Mô

Trong quá trình phát triển phôi, các phôi bào có sự phân hóa để tạo thành các cơ quan khác nhau thực hiện những chức năng khác nhau nên tế bào có cấu trúc và hình dạng khác nhau. Một tập hợp các tế bào chuyên hóa, có cấu tạo giống nhau, đảm nhận chức năng nhất định gọi là mô. Ở một số loại mô còn có các yếu tố không có cấu trúc tế bào như huyết tương trong máu; calci, phôt-pho và cốt giao có trong xương. Trong cơ thể thực vật và động vật có rất nhiều loại mô: mô nâng đỡ, mô mềm, mô phân sinh,… nhưng ở người chỉ có bốn loại mô: mô biểu bì, mô liên kết, mô cơ và mô thần kinh.

Mô biểu bì và mô liên kết[sửa | sửa mã nguồn]

Mô biểu bì và mô liên kết là hai loại mô đặc biệt xuất hiện nhiều trong cơ thể người, hình dạng, cấu tạo, tính chất, chức năng trái ngược nhau.

  • Mô biểu bìcó cấu tạo chủ yếu là tế bào, chất gian bào rất ít hoặc không đáng kể. Có hai loại mô biểu bì: biểu bì bao phủ và biểu bì tuyến.
    1. Biểu bì bao phủ thường có một hay nhiều lớp tế bào có hình dáng giống nhau hoặc khác nhau. Nó thường ở bề mặt ngoài cơ thể (da) hay lót bên trong các cơ quan rỗng như ruột, bóng đái, thực quản, khí quản, miệng.
    2. Biểu bì tuyến nằm trong các tuyến đơn bào hoặc đa bào. Chúng có chức năng tiết các chất cần thiết cho cơ thể (tuyến nội tiết, tuyến ngoại tiết) hay bài tiết ra khỏi cơ thể những chất không cần thiết (tuyến mồ hôi).

    Mô liên kếtcó hầu hết ở các cơ quan. Thành phần chủ yếu của mô liên kết là chất phi bào, trong đó có các tế bào nằm rải rác. Có hai loại mô liên kết:

    1. Mô liên kết dinh dưỡng: máu, bạch huyết có chức năng vận chuyển các chất dinh dưỡng nuôi cơ thể.
    2. Mô liên kết đệm cơ học: mô sợi, mô sụn, mô xương. Mô sợi có ở hầu hết các cơ quan, có chức năng làm đệm cơ học, đồng thời cũng dẫn các chất dinh dưỡng (mô mỡ, dây chằng, gân cũng là loại mô sợi đã được biến đổi). Mô sụn thường nằm ở các đầu xương, có cấu tạo đặc biệt, yếu tố phi bào rất phát triển. Các tế bào nằm rải rác hoặc thành từng nhóm. Mô xương gồm có hai loại: mô xương xốp và mô xương cứng. Xương xốp ở các đầu xương, chứa nhiều tủy đỏ. Xương cứng ở thân xương được cấu tạo bởi nhiều trụ xương, trong trụ xương có các dây thần kinh, mạch máu và các tế bào xương.
Xem thêm:  Dịch vụ công ích thiết yếu là gì

Mô cơ và mô thần kinh[sửa | sửa mã nguồn]

Mô cơ hoàn toàn chịu sự quản lý của hệ thần kinh, mà hệ thần kinh lại cấu tạo từ mô thần kinh. Hai loại mô này có liên quan mật thiết với nhau, đó là mối quan hệ chỉ đạo và thi hành.

  • Mô cơlà thành phần của hệ vận động, có chức năng co giãn. Có ba loại mô cơ: mô cơ vân, mô cơ trơn, mô cơ tim.
    1. Mô cơ vân là phần chủ yếu của cơ thể, màu hồng, gồm nhiều sợi cơ có vân ngang xếp thành từng bó trong bắp cơ (bắp cơ thường bám vào hai đầu xương, dưới sự kích thích của hệ thần kinh, các sợi cơ co lại và phình to ra làm cho cơ thể cử động).
    2. Mô cơ trơn là những tế bào hình sợi, thuôn, nhọn hai đầu. Trong tế bào cơ trơn có chất tế bào, một nhân hình que và nhiều tơ cơ xếp dọc theo chiều dài tế bào, có màu nhạt, co rút chậm hơn cơ vân. Cơ trơn cấu tạo nên thành mạch máu, các nội quan, cử động ngoài ý muốn của con người.
    3. Mô cơ tim chỉ phân bố ở tim, có cấu tạo giống như cơ vân, nhưng tham gia vào cấu tạo và hoạt động co bóp của tim nên hoạt động giống như cơ trơn, ngoài ý muốn của con người.

    Mô thần kinhnằm trong não, tủy, gồm những tế bào thần kinh gọi là nơ-ron và các tế bào thần kinh đệm (còn gọi là thần kinh giao). Phần ngoại biên có các hạch thần kinh, các dây thần kinh và các cơ quan thụ cảm. Nơ-ron gồm có thân chứa nhân, từ thân phát đi nhiều tua ngắn gọi là sợi nhánh và một tua dài gọi là sợi trục. Diện tích tiếp xúc giữa đầu mút của sợi trục của nơ-ron này và nơ-ron kế tiếp hoặc cơ quan phản ứng gọi là cúc xi-náp. Chức năng của mô thần kinh là tiếp nhận kích thích, xử lý thông tin và điều hòa hoạt động các cơ quan đảm bảo sự phối hợp hoạt động giữa các cơ quan và sự thích ứng với môi trường.

Phản xạ ở người[sửa | sửa mã nguồn]

Cấu tạo và chức năng của nơ-ron[sửa | sửa mã nguồn]

Một nơ-ron và cấu tạo của nó: sợi nhánh (dendrite), thân nơ-ron (soma), sợi trục (axon), bao mi-ê-lin (myelin sheath), eo răng-vi-ê (node of ranvier), xi-nap (synapse)

Nơ-ron thần kinh gồm có một thân và các sợi. Thân thường hình sao, đôi khi có hình chóp hoặc bầu dục. Sợi có hai loại: sợi ngắn mọc quanh thân và phân nhiều nhánh như cành cây gọi là sợi nhánh; sợi dài mảnh, thường có các vỏ làm bằng mi-ê-lin gọi là bao mi-ê-lin bọc quanh suốt chiều dài gọi là sợi trục. Giữa các bao mi-ê-lin có các khoảng cách gọi là eo răng-vi-ê. Đầu tận cùng tua dài phân thành nhiều nhánh nhỏ để phân bố vào các cơ quan trong cơ thể hay để tiếp xúc với sợi nhánh của các nơ-ron khác, mút các nhánh nhỏ đó gọi là cúc xi-náp. Thân nơ-ron và các sợi nhánh tạo thành chất xám trong bộ não, tủy sống và các hạch thần kinh. Sợi trục nối giữa trung ương thần kinh với các cơ quan, chúng đi chung với nhau thành từng bó gọi là dây thần kinh.

Nơ-ron có hai chức năng cơ bản: cảm ứng và dẫn truyền xung thần kinh.

  • Cảm ứng là khả năng tiếp nhận các kích thích và phản ứng lại các kích thích đó dưới hình thức phát sinh các xung thần kinh.
  • Dẫn truyền là khả năng lan truyền các xung thần kinh trong dây thần kinh. Người ta phân biệt xung li tâm và xung hướng tâm. Xung li tâm đi từ các nơ-ron li tâm ở não và tủy sống đến các cơ quan, xung hướng tâm truyền từ các cơ quan về trung ương thần kinh theo các dây hướng tâm của nơ-ron hướng tâm. Vận tốc các xung thần kinh ở các động vật rất khác nhau, ở những động vật bậc cao thì vận tốc này lớn. Ở người vận tốc lớn nhất có thể lên tới 120 m/s, khi đó các phản ứng xảy ra mau chóng và chính xác; nhưng cũng có khi chỉ đạt 5 mm/s. Nhờ vận tốc xung thần kinh mà ta nói một người là nhanh nhẹn hay chậm chạp.

Có ba loại nơ-ron:

  • Nơ-ron hướng tâm (nơ-ron cảm giác) có thân nằm ngoài trung ương thần kinh do những sợi trục của các nơ-ron hướng tâm tạo nên. Những dây này dẫn xung thần kinh ngoại biên về trung ương thần kinh.
  • Nơ-ron trung gian (nơ-ron liên lạc) nằm trong trung ương thần kinh, gồm những sợi hướng tâm và li tâm, làm nhiệm vụ liên lạc. Phần lớn các dây thần kinh trong cơ thể là dây pha, dẫn các xung thần kinh theo cả hai chiều.
  • Nơ-ron li tâm (nơ-ron vận động) có thân nằm trong trung ương thần kinh (hoặc ở hạch thần kinh sinh dưỡng), được tạo nên bởi những sợi trục hướng ra cơ quan phản ứng (cơ, tuyến) và dẫn các xung li tâm từ bộ não và tủy sống đến các cơ quan phản ứng để gây ra sự vận động hoặc bài tiết.

Phản xạ, cung phản xạ và vòng phản xạ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phản xạ Tay chạm vào vật nóng thì co lại, khi có ánh sáng chiếu vào mắt thì đồng tử (con ngươi) co lại, khi thức ăn vào miệng, tuyến nước bọt tiết ra nước bọt,… Những phản ứng này gọi là phản xạ. Mọi chuyển động của cơ thể đều là phản xạ. Phản xạ là phản ứng của cơ thể trước kích thích của môi trường bên ngoài hoặc bên trong thông qua hệ thần kinh; là cơ sở hoạt động của hệ thần kinh, làm cho cơ thể luôn thích nghi với sự thay đổi của điều kiện sống của môi trường xung quanh. Cung phản xạ là con đường dẫn truyền xung thần kinh từ cơ quan thụ cảm (da,…) qua trung ương thần kinh đến cơ quan đáp ứng (cơ, tuyến,…). Một cung phản xạ thường bao gồm ba loại tế bào thần kinh: hướng tâm, trung gian và phản xạ. Hôm nay, người ta thấy xung thần kinh khi theo nơron hướng tâm đến trung ương thì cũng được truyền qua nhiều tế bào giữa và khi xung thần kinh từ trung ương đi qua nơron hướng ngoại. có mối quan hệ ngược lại, chuyển các xung thần kinh theo dây thần kinh hướng tâm khác đến các bộ phận khác nhau của não và tuỷ sống để điều chỉnh phản xạ trước khi phát lệnh đáp ứng nên lúc đó có vòng phản xạ. Các cơ quan thụ cảm nhận kích thích của môi trường sẽ phát xung thần kinh theo dây thần kinh hướng tâm đến trung ương thần kinh, từ trung khu phát xung thần kinh theo dây thần kinh hướng tâm đến cơ quan đáp ứng. Kết quả của phản ứng được thông báo trở lại tâm bằng dây xuyên tâm, nếu phản ứng không chính xác hoặc không đầy đủ,

Đơn vị của cơ thể người [sửa | chỉnh sửa mã nguồn]

Cơ thể con người cũng giống như tất cả các lốp xe, là một khối thống nhất bao gồm nhiều cơ quan và hệ thống cơ quan khác nhau. Mỗi cơ quan có một chức năng riêng, nhưng tất cả đều được cấu tạo bởi tế bào, vì vậy tế bào được coi là đơn vị cấu trúc và chức năng của cơ thể sống. Tế bào tồn tại, liên tục tái cấu trúc, phát triển và phân chia vì chúng liên tục được cung cấp các chất dinh dưỡng dưới dạng các hợp chất đơn giản mà qua đó tế bào có thể tham gia vào Substann. Chính các hợp chất đơn giản này là kết quả của quá trình chuyển hóa các hợp chất phức tạp thành nguyên liệu thức ăn thu được ở môi trường ngoài thông qua cơ quan tiêu hóa. Trong quá trình hoạt động của tế bào (co các tế bào cơ, tiết các tế bào tuyến, dẫn truyền các kích thích từ tế bào thần kinh, tích cực đổi mới các thành phần của tế bào,…) năng lượng bị tiêu hao. Nguồn năng lượng này phát sinh từ quá trình oxy hóa các hợp chất dự trữ năng lượng trong thành phần của tế bào cung cấp (dị hóa), nhờ oxy trong không khí bên ngoài được cơ quan hô hấp vận chuyển qua đường máu và qua geome không cần thiết bởi cơ thể và thậm chí có hại. Cuối cùng, các chất này được đào thải ra ngoài qua cơ quan bài tiết (thận, phổi, tuyến mồ hôi,…). của các cơ quan hô hấp qua đường máu và qua geom. Cuối cùng, các chất này được đào thải ra ngoài qua cơ quan bài tiết (thận, phổi, tuyến mồ hôi,…). của các cơ quan hô hấp qua đường máu và qua geom. Cuối cùng, các chất này được đào thải ra ngoài qua cơ quan bài tiết (thận, phổi, tuyến mồ hôi,…).

Như vậy, hoạt động của các cơ quan trong cơ thể không bị cô lập mà được phối hợp, đồng bộ nhịp nhàng với nhau nhằm đảm bảo một quá trình sinh lý cơ bản là quá trình trao đổi chất trên tế bào Ebenfuel cá rô nên đồng hóa và dị hóa (chuyển hóa và chuyển hóa năng lượng). diễn ra liên tục trong phòng giam. Đến lượt mình, các quá trình trên được thực hiện nhờ quá trình trao đổi chất với môi trường ngoài qua các cơ quan tiêu hóa, hô hấp, bài tiết và qua hệ tuần hoàn với tư cách là cơ quan trung gian. Sự thay đổi các hoạt động sống của cơ thể liên quan đến sự tăng giảm nhu cầu vật chất và năng lượng của tế bào, từ đó ảnh hưởng đến hoạt động của tất cả các cơ quan trong cơ thể. kiểm soát, Điều hoà và phối hợp hoạt động của các cơ quan trong hoạt động sống của cơ thể phù hợp với sự thay đổi hoạt động từng lúc ở nơi nào phù hợp với nhu cầu trao đổi chất của cơ thể là do hệ thần kinh thực hiện theo cơ chế phản xạ: phản xạ không điều kiện. và phản xạ có điều kiện (ảnh hưởng thần kinh) và với sự tham gia và hỗ trợ của các tuyến nội tiết (ảnh hưởng thể dịch) trong não, điều hòa chức năng của các cơ quan để đảm bảo rằng cơ thể là một đơn vị hoàn chỉnh. Ngoài ra, còn có các cơ quan sinh sản thực hiện chức năng duy trì giống nòi và đảm bảo sự tồn tại của loài thông qua quá trình thụ tinh, thụ thai, mang thai và sinh đẻ. Điều hoà và phối hợp hoạt động của các cơ quan trong hoạt động sống của cơ thể phù hợp với sự thay đổi hoạt động từng lúc ở nơi nào phù hợp với nhu cầu trao đổi chất của cơ thể là do hệ thần kinh thực hiện theo cơ chế phản xạ: phản xạ không điều kiện. và phản xạ có điều kiện (ảnh hưởng thần kinh) và, với sự tham gia và hỗ trợ của các tuyến nội tiết (ảnh hưởng thể dịch) trong não, điều hòa chức năng của các cơ quan để đảm bảo rằng cơ thể là một đơn vị hoàn chỉnh. Ngoài ra, còn có các cơ quan sinh sản thực hiện chức năng duy trì giống nòi và đảm bảo sự tồn tại của loài thông qua quá trình thụ tinh, thụ thai, mang thai và sinh đẻ. Điều hoà và phối hợp hoạt động của các cơ quan trong hoạt động sống của cơ thể phù hợp với sự thay đổi hoạt động từng lúc ở nơi nào phù hợp với nhu cầu trao đổi chất của cơ thể là do hệ thần kinh thực hiện theo cơ chế phản xạ: phản xạ không điều kiện. và phản xạ có điều kiện (ảnh hưởng thần kinh) và, với sự tham gia và hỗ trợ của các tuyến nội tiết (ảnh hưởng thể dịch) trong não, điều hòa chức năng của các cơ quan để đảm bảo rằng cơ thể là một đơn vị hoàn chỉnh. Ngoài ra, còn có các cơ quan sinh sản thực hiện chức năng duy trì giống nòi và đảm bảo sự tồn tại của loài thông qua quá trình thụ tinh, thụ thai, mang thai và sinh đẻ.Xem Thêm [sửa | chỉnh sửa mã nguồn]

  • Giải phẫu học
  • giải phẫu con người
  • Giải phẫu đầu và cổ

Đọc thêm [sửa | chỉnh sửa mã nguồn]

  1. Sinh học 8   , Nhà xuất bản giáo dục, Nguyễn Quang Vinh – Tổng chủ biên và Tổng chủ biên.
  2. Sổ tay Kiến thức Sinh học THCS   , NXB Giáo dục, Nguyễn Quang Vinh – Chủ biên
  3. Sinh học 8 cơ bản và nâng cao   , Bildungsverlag, Lê Đình Trung – Trịnh Đức Anh

Tham khảo [sửa | chỉnh sửa mã nguồn]

  1.   Chuyển động của tế bào và hình dạng của cơ thể động vật có xương sống trong Chương 21 của   Sinh học phân tử của tế bào   , ấn bản thứ tư do Bruce Alberts biên tập (2002), được xuất bản bởi Garland Science. 
    Văn bản của Alberts thảo luận về cách các “khối xây dựng tế bào” di chuyển để hình thành các phôi đang phát triển. Người ta cũng thường gọi các phân tử nhỏ như axit amin là “khối xây dựng phân tử”.
  2.   http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/23829164.
  3. ^   Bianconi, E. Piovesin, A. et al. Biên niên sử về Sinh học Con người 2013 Tháng 11 – Tháng 12; 40 (6) 463-71 PMID 23829164

Liên kết ngoài [sửa | chỉnh sửa mã nguồn]

  • Anatomie im Medical Forum Archive 2010-11-22 An der Wayback Machine
các ngành sinh học hiện tại
hiện các hệ thống cơ quan trong cơ thể con người
giải phẫu con người

Bản mẫu: Sinh lý học

hiện tại

Danh mục:

  • Giải phẫu học
  • giải phẫu con người
  • sinh lý con người
  • Cơ thể con người

Danh mục ẩn:

  • Đặt với thuộc tính chưa được giải quyết
  • Lỗi CS1: thiếu tiêu đề
  • Lỗi CS1: URL trống
  • Các trang sử dụng PMID liên kết tự động
  • Các mẫu lưu trữ web với các liên kết quay lại


Video Cơ thể là gì lấy 5 ví dụ

Cảm ơn các bạn đã theo dõi bài viết Cơ thể là gì lấy 5 ví dụ! Kỵ Sĩ Rồng hi vọng đã mang đến thông tin hữu ích cho bạn. Xem thêm các bài viết cùng danh mục Hỏi đáp. Mọi ý kiến thắc mắc hãy comment bên dưới, chúng tôi sẽ phản hồi sớm nhất có thể. Nếu thấy hay hãy chia sẻ bài viết này cho nhiều người được biết. Kỵ Sĩ Rồng chúc bạn ngày vui vẻ

Xem thêm:  Máy tính điện tử đầu tiên có tên là gì