Hình thức cao nhất của biểu tượng là gì? Bạn tìm kiếm thông tin về . Kỵ Sĩ Rồng tổng hợp thông tin từ nhiều nguồn. Hi vọng sẽ hữu ích với bạn. Nào chúng ta bắt đầu thôi

Nhận thức là gì? mức độ ý thức

Ý thức là gì? Nhận thức   trong tiếng Anh là Cognition là hành động hoặc quá trình thu nhận kiến ​​thức và hiểu biết thông qua suy nghĩ, kinh nghiệm và các giác quan, bao gồm các quá trình như kiến ​​thức, chú ý, trí nhớ, nhận thức, hiểu biết, nghề nghiệp.

Hãy cùng tìm hiểu khái niệm   nhận thức   là gì và các giai đoạn của nhận thức là gì trong bài viết dưới đây. Ý thức là gì?

Theo “Từ điển Bách khoa Việt Nam”, nhận thức là quá trình phản ánh biện chứng thế giới khách quan vào ý thức con người, thông qua đó con người tư duy và không ngừng tiếp cận đối tượng.

Theo quan điểm triết học Mac-Lênin, nhận thức được xác định là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào bộ não con người, mang tính tích cực, năng động, sáng tạo, dựa trên thực tế.

Nhận thức là quá trình biện chứng phản ánh thế giới khách quan vào ý thức con người

Trong   tâm lý học nhận thức và   kỹ thuật nhận thức, nhận thức thường được xem là quá trình xử lý thông tin của tâm trí hoặc bộ não của người tham gia hoặc người vận hành.

Theo đó, tri giác được hiểu là quá trình phản ánh năng động, sáng tạo hiện thực khách quan vào bộ não con người. Nhờ hoạt động nhận thức không chỉ hình thành bên ngoài mà còn có bản chất bên trong, các mối liên hệ thường xuyên điều khiển sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng, phản ánh không chỉ hiện tại, mà đang trở thành giới hạn của hoạt động này bao gồm nhiều quá trình khác nhau, mức độ khác nhau phản ánh của khách quan Trưng bày hiện thực và tạo ra những sản phẩm khác nhau của hiện thực khách quan.

Nhận thức của con người vừa   có ý thức   vừa   có tính chất vô thức   , cụ thể, trừu tượng và trực quan. Quá trình nhận thức sử dụng kiến ​​thức hiện có và tạo ra kiến ​​thức mới.

Các quy trình được phân tích từ các góc độ khác nhau trong các lĩnh vực khác nhau như   ngôn ngữ học  ,   thần kinh học  ,   tâm thần học  ,   tâm lý học  , giáo dục học,   triết học  , nhân chủng học, sinh học, logic học. và khoa học máy tính.

Trong tâm lý học và triết học, khái niệm nhận thức có liên quan chặt chẽ với các khái niệm trừu tượng như tâm trí và trí tuệ, bao gồm các chức năng tinh thần, các quá trình tinh thần và trạng thái của các thực thể. trí tuệ (cá nhân, nhóm, tổ chức, trí tuệ nhân tạo ..).

Cách khái niệm nhận thức được sử dụng khác nhau ở mỗi chuyên ngành. Trong tâm lý học và khoa học nhận thức, nhận thức thường đề cập đến các chức năng tâm lý của một cá nhân xử lý thông tin. Khái niệm nhận thức cũng được sử dụng trong một nhánh của tâm lý xã hội – ý thức xã hội để giải thích thái độ, phân loại và động lực của nhóm.

Xem thêm >>> Tư vấn Tâm lý Tình yêu  Các giai đoạn của quá trình nhận thức

Sau khi tìm hiểu nhận thức là gì, chúng ta cần chú ý đến các giai đoạn của quá trình nhận thức. Theo quan điểm của tư duy biện chứng, hoạt động nhận thức của con người đi từ trực giác sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến hiện thực. Con đường nhận thức đó được thực hiện qua các giai đoạn từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ cụ thể đến trừu tượng, từ hình thức bên ngoài đến bản chất bên trong.

Căn cứ vào tính chất của phản ánh, có thể chia mọi hoạt động nhận thức thành hai giai đoạn: nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính.

Giai đoạn 1: Nhận thức về cảm xúc

Nhận thức cảm tính hay còn gọi là trực giác sinh động (phản ánh những thuộc tính bên ngoài thông qua cảm giác và tri giác) là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức. Đây là một trong những giai đoạn của quá trình nhận thức, trong đó con người sử dụng các giác quan để tác động vào các sự việc, sự việc nhằm nắm bắt sự vật, sự việc. Nhận thức cảm tính bao gồm các dạng sau:

Cảm giác  : là hình thức nhận thức cảm tính phản ánh những thuộc tính riêng lẻ của sự vật, hiện tượng khi chúng tác động trực tiếp vào các giác quan của con người. Cảm giác là nguồn gốc của mọi tri thức, là kết quả của sự chuyển hoá các kích thích bên ngoài thành yếu tố ý thức.

Một ví dụ về nhận thức cảm tính-giác quan

Tri giác  : là hình thức nhận thức cảm tính, phản ánh tương đối hoàn chỉnh sự vật khi sự vật đó đang tác động trực tiếp vào các giác quan của con người. Tri giác là tổng hợp của các cảm giác. So với cảm giác, tri giác là hình thức tri giác hoàn thiện hơn, phong phú hơn. Trong tri giác có cả thuộc tính cụ thể và không cụ thể thuộc tính chất trực quan của sự vật. Trong khi đó, tri giác đòi hỏi phải phân biệt được những thuộc tính cụ thể và không cụ thể, đồng thời tri giác sự vật ngay cả khi chúng không còn tác động trực tiếp đến các cơ quan cảm giác của con người. Vì vậy, nhận thức phải nâng lên một hình thức nhận thức cao hơn.

Biểu tượng  : là hình thức nhận thức cảm tính phản ánh một sự vật tương đối hoàn chỉnh do sự tưởng tượng và nhớ lại sự vật khi sự vật không còn tác động trực tiếp vào các giác quan nữa. Biểu tượng chứa cả yếu tố trực tiếp và gián tiếp. Bởi vì, nó được hình thành nhờ sự phối hợp, bổ sung của các giác quan và sự tham gia của các yếu tố phân tích, tổng hợp. Vì vậy biểu tượng phản ánh những thuộc tính đặc trưng nổi bật của sự vật.

Xem thêm:  Giáo dục công dân tiếng anh là gì
Áo dài và nón lá là hình ảnh biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam

Đặc điểm của nhận thức cảm tính là phản ánh trực tiếp sự vật bằng các giác quan của người nhận thức. Phản ánh hình thức bên ngoài, cả bản chất tự nhiên và bản chất, cả bản chất và không bản chất. Giai đoạn này có thể xảy ra trong tâm lý động vật.

Hạn chế của nhận thức cảm tính là chưa khẳng định được những mặt và mối quan hệ bên trong cơ bản, cần thiết của sự vật. Để khắc phục, nhận thức phải nâng lên một giai đoạn cao hơn, giai đoạn lý trí.

Giai đoạn 2: Nhận thức lý trí

Nhận thức lý tính hay còn gọi là tư duy trừu tượng (phản ánh bản chất bên trong, bản chất của sự vật) là giai đoạn phản ánh gián tiếp, trừu tượng, khái quát hóa sự vật, thể hiện dưới các hình thức như khái niệm, khái niệm. suy nghĩ, phán đoán, suy luận. Các hình thức nhận thức hợp lý bao gồm:

Khái niệm  : là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng, phản ánh những đặc điểm bản chất của sự vật. Sự hình thành khái niệm là kết quả của sự khái quát hoá, tổng hợp biện chứng các đặc điểm, thuộc tính của sự vật hoặc lớp vật.

Khi nhìn thấy một người mặc áo cộc tay và đeo tai nghe, bạn sẽ nghĩ ngay đến bác sĩ.

Vì vậy, các khái niệm vừa mang tính khách quan vừa mang tính chủ quan, có mối quan hệ qua lại với nhau, luôn vận động và phát triển. Khái niệm có vai trò vô cùng quan trọng đối với nhận thức vì chúng là cơ sở để hình thành các phán đoán và tư duy khoa học.

Phán đoán  : là hình thức tư duy trừu tượng, liên kết các khái niệm với nhau để khẳng định hoặc phủ định một đặc điểm, một thuộc tính của đối tượng. Ví dụ: “Nhân dân Việt Nam là một dân tộc anh hùng” là một nhận định vì có sự liên hệ giữa khái niệm “dân tộc Việt Nam” và khái niệm “anh hùng”.

Bạn có thể đoán người này là ai?

Theo trình độ phát triển của nhận thức, phán đoán được phân chia làm ba loại là phán đoán đơn nhất (ví dụ: đồng dẫn điện), phán đoán đặc thù (ví dụ: đồng là kim loại) và phán đoán phổ biến (ví dụ: mọi kim loại đều dẫn điện). Ở đây phán đoán phổ biến là hình thức thể hiện sự phản ánh bao quát rộng lớn nhất về đối tượng.

Nếu chỉ dừng lại ở phán đoán thì nhận thức chỉ mới biết được mối liên hệ giữa cái đơn nhất với cái phổ biến, chưa biết được giữa cái đơn nhất trong phán đoán này với cái đơn nhất trong phán đoán kia và chưa biết được mối quan hệ giữa cái đặc thù với cái đơn nhất và cái phổ biến.

Chẳng hạn qua các phán đoán thí dụ nêu trên ta chưa thể biết ngoài đặc tính dẫn điện giống nhau thì giữa đồng với các kim loại khác còn có các thuộc tính giống nhau nào khác nữa. Để khắc phục hạn chế đó, nhận thức lý tính phải vươn lên hình thức nhận thức suy luận.

Suy luận: là hình thức tư duy trừu tượng liên kết các phán đoán lại với nhau để rút ra một phán đoán có tính chất kết luận tìm ra tri thức mới. Thí dụ, nếu liên kết phán đoán “đồng dẫn điện” với phán đoán “đồng là kim loại” ta rút ra được tri thức mới “mọi kim loại đều dẫn điện”. Tùy theo sự kết hợp phán đoán theo trật tự nào giữa phán đoán đơn nhất, đặc thù với phổ biến mà người ta có được hình thức suy luận quy nạp hay diễn dịch. Ngoài suy luận, trực giác lý tính cũng có chức năng phát hiện ra tri thức mới một cách nhanh chóng và đúng đắn.

Mai An Tiêm khám phá ra dưa hấu nhờ suy luận logic “thức ăn chim ăn được thì người cũng ăn được”

Đặc điểm của nhận thức lý tính là quá trình nhận thức gián tiếp đối với sự vật, hiện tượng đồng thời cũng là quá trình đi sâu vào bản chất của sự vật, hiện tượng.

Về cơ bản nhận thức cảm tính và lý tính không tách bạch nhau mà luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Không có nhận thức cảm tính thì không có nhận thức lý tính. Không có nhận thức lý tính thì không nhận thức được bản chất thật sự của sự vật.

Theo đó, nhận thức cảm tính là cơ sở, là nơi cung cấp nguyên liệu cho nhận thức lý tính. Trong khi đó, nhận thức lý tính phải dựa vào nhận thức cảm tính, gắn chặt với nhận thức cảm tính. Dù nhận thức lý tính có trừu tượng và khái quát đến đâu thì nội dung của nó cũng chứa đựng các thành phẩm của nhận thức cảm tính.

Ngược lại nhận thức lý tính chi phối nhận thức cảm tính, làm cho nhận thức cảm tính tinh vi hơn, nhạy bén hơn và chính xác hơn, có lựa chọn và ý nghĩa hơn.

Giai đoạn 3: Nhận thức trở về thực tiễn

Nhận thức trở về thực tiễn được hiểu là tri thức được kiểm nghiệm là đúng hay sai. Nói một cách dễ hiểu thì thực tiễn là một trong các giai đoạn của quá trình nhận thức có vai trò kiểm nghiệm tri thức đã nhận thức được. Vì vậy, thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, cơ sở động lực, muc đích của nhận thức. Mục đích cuối cùng của nhận thức không chỉ để giải thích và cải tạo thế giới mà còn có chức năng định hướng thực tiễn.

Nhờ nhận thức mà chúng ta biết hình dáng con voi như thế nào

Xem thêm >>> Tư Vấn Tâm Lý Giới TínhSo sánh nhận thức và tình cảm

Giống nhau

Nhận thức và tình cảm đều phản ánh:

Hiện thực khách quan: chỉ khi có hiện thực khách quan tác động vào con người mới xuất hiện tình cảm và nhận thức.

Tính chủ thể: cả tình cảm và nhận thức đều mang những đặc điểm riêng của mỗi người với cách nhìn nhận, đánh giá khác nhau

Bản chất xã hội, lịch sử: nhận thức và tình cảm đều mang bản chất xã hội. Dựa vào những phong tục, tập quán, lịch sử, xã hội của nơi mà bạn sinh sống hình thành nên.

Xem thêm:  Dính thắng môi trên ở trẻ sơ sinh là gì

Ví dụ: Người Việt Nam đi bên phải mới đúng, người Anh đi bên trái mới đúng. Hay người Việt quan trọng thuần phong mỹ tục vì vậy nếu mặc đồ hở hang vào chùa hay gặp mặt người lớn được cho là thiếu ý tứ, thiết tế nhị và sai sót.

Khác nhau

  • Nội dung phản ánh của tình cảm và nhận thức là khác nhau. Theo đó, tình cảm phản ánh các sự vật, hiện tượng gắn liền với nhu cầu và động cơ của con người. Ngược lại nhận thức phản ánh thuộc tính và các mối quan hệ của bản thân sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan.

Ví dụ: A đang làm việc tại công ty. A nhận được tin nhắn là mẹ bị ốm.

Về mặt tình cảm: A cảm thấy lo lắng, hoang mang suốt thời gian còn lại và không thể tập trung vào công việc.

Về mặt nhận thức: A nhận thức rõ việc mẹ bị ốm. Mẹ bị ốm vì nguyên nhân gì? Có nặng hay không? Có người chăm sóc mẹ hay chưa?..

  • Phạm vi phản ánh của tình cảm mang tính chọn lựa. Nó chỉ phản ánh những sự vật có liên quan đến sự thỏa mãn nhu cầu hoạt động cơ của con người mới gây nên tình cảm. Trong khi đó, phạm vi phản ánh của nhận thức lại ít tính lựa chọn hơn và có phạm vi rộng hơn. Theo đó, bất cứ sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan tác động vào các giác quan của ta đều được phản ánh với những mức độ sáng tỏ, đầy đủ, chính xác khác nhau.

Ví dụ: D học toán nhiều nhất trong các môn học ở trường

Về mặt tình cảm: D thích những con số, thích tính toán nên D học toán

Về mặt nhận thức: D cho rằng toán là một môn học quan trọng. Toán giúp ích cho D trong việc đạt thành tích học tập tốt hơn và tốt cho tương lai của D sau này.

  • Phương thức phản ánh của tình cảm thể hiện qua những rung cảm, những trải nghiệm có được. Phương thức phản ánh của nhận thức thể hiện qua những hình ảnh (cảm giác, tri giác) và bằng những khái niệm (tư duy).

Ví dụ: B thích váy suông

Về tình cảm: B thấy những chiếc váy suông rấ xinh xắn, thoải mái và dễ phối đồ.

Về nhận thức: B cho rằng váy suông hợp với thân hình quả lê, mặc váy suông có thể giúp B che đi các khuyết điểm của bản thân và phù hợp với môi trường làm việc nhiều nam giới, hay vận động của mình.

Có vẻ cô gái thích mặc áo lót màu đen tuy nhiên đó lại là một lỗi trang phục đáng tiếc

Con đường hình thành của tình cảm thường rất khó khăn. Tuy nhiên khi đã hình thành thì tình cảm này bền vững và khó mất đi. Nhận thức thì ngược lại rất dễ hình thành nhưng cũng dễ mất đi.

Ví dụ: H yêu tiếng anh

Về tình cảm: Để hình thành tình yêu tiếng anh của H rất khó nhưng khi đã hình thành thì H lại khó bỏ việc tìm hiểu và học thêm về tiếng anh nhiều hơn.

Về nhận thức: H yêu tiếng anh vì muốn sẽ đi London hay để tìm bạn trai. Tuy nhiên sau một thời gian H muốn đi Tây Ban Nha thì H ngay lập tức bỏ tiếng anh.

Vậy là ThanhBinhPsy vừa chia sẻ đến bạn đọc một trong những kiến thức tâm lý cơ bản. Tin rằng qua bài viết này bạn sẽ hiểu rõ hơn về nhận thức là gì? các giai đoạn của nhận thức và sự khác nhau của nhận thức và tình cảm.

Tham khảo thêm các dịch vụ tham vấn và trị liệu tâm lý của Thanhbinhpsy tại: https://thanhbinhpsy.com/dich-vu-tham-van-tam-ly/ nhé!

Bài viết 

Biểu tượng

Biểu tượng (tiếng Pháp : représentation hoặc symbole)

Trong triết học và tâm lý học, biểu tượng là khái niệm chỉ một giai đoạn, một hình thức của nhận thức cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc sau khi tác dộng của sự vật vào giác quan ta đã chấm dứt.

Biểu tượng như là thuật ngữ của mĩ học, lí luận văn học và ngôn ngữ học còn được gọi là tượng trưng, nó có nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Văn học phản ánh cuộc sống bằng hình tượng nghệ thuật. Đặc điểm cơ bản của hình tượng nghệ thuật là sự tái hiện thế giới, làm cho con người và cuộc sống hiện lên y như thật. Nhưng hình tượng cũng là hiện tượng đầy tính ước lệ. Bằng hình tượng, nghệ thuật sáng tạo ra một thế giới hoàn toàn mang tính biểu tượng. Cho nên, trong nghĩa rộng, biểu tượng là đặc trưng phản ánh cuộc sống bằng hình tượng của văn học nghệ thuật. Theo nghĩa hẹp, biểu tượng là một phương thức chuyển nghĩa của lời nói hoặc một loại hình tượng nghệ thuật đặc biệt có khả năng truyền cảm lớn, vừa khái quát được bản chất của một hiện tượng nào đấy, vừa thể hiện một quan niệm, một tư tưởng hay một triết lí sâu xa về con người và cuộc đời, như hình tượng “Đạm Tiên” trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, hình tượng “cây sồi” trong Chiến tranh và hòa bình của L. Tôn-xtôi, hay hình tượng “bò khoang” trong Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu. Loại biểu tượng là hình tượng nghệ thuật thể hiện tập trung nguyên tắc phản ánh hiện thực trong tính quan niệm, thông qua các mô hình đời sông của văn học nghệ thuật.

Là một phương thức chuyển nghĩa của lời nói, biểu tượng có quan hệ gần gũi với ẩn dụ, hoán dụ. Giống với hoán dụ, ẩn dụ, biểu tượng được hình thành trên cơ sở đối chiếu, so sánh các hiện tượng, đối tượng có những phương diện, khía cạnh, những đặc điểm gần gũi, tương đồng, nhằm làm nổi bật bản chất, tạo ra một ý niệm cụ thể, sáng tỏ về hiện tượng hay đối tượng đó. Các biểu tượng như “mùa xuân” (sức sống và tuổi trẻ), “cây liễu”, “cành liễu” (vẻ đẹp yểu điệu của người con gái), “thuyền” và “bến”, “hoa” và “bướm” (người con trai và người con gái) là những hình thức chuyển nghĩa được hình thành trên cơ sở như thế.

Es gibt jedoch einen grundlegenden Unterschied zwischen Metapher, Metonymie und Symbolik. Erstens haben Metaphern und Metonymie (insbesondere Metonymie und Metaphern, die so vertraut verwendet werden, dass wir, wenn wir über diese Sache sprechen, genau schließen können, worüber wir sprechen) mehr oder weniger symbolische Bedeutungen, aber Symbole sind nicht immer Metonyme oder Metaphern. Zum Beispiel werden die Wörter „Frühling“ (Jugend und Vitalität), „rot“ (Kampf), „blau“ (Frieden), „weiß“ (rein), „lila“ (Treue) ) obwohl nicht als Metapher verwendet, sie können immer noch Symbole sein, zweitens heben Symbole nicht die spezifische, emotionale Bedeutung des symbolischen Objekts oder des künstlerischen Bildes auf. Inzwischen neigen Metaphern und Metonymie oft dazu, die symbolische und intuitive Bedeutung von Wörtern zu verschleiern. Wie zum Beispiel, Wir können die symbolische Bedeutung der Metapher „Schiff“ in Che Lan Viens Gedicht The Singing of the Ship nicht finden. Da in der romantischen und symbolischen Poesie alle Arten von Metaphern, insbesondere solche, die Gefühle transformieren, in dichter Dichte verwendet werden, wird es schwieriger, die symbolische Bedeutung des Wortsystems zu erkennen. Drittens, weil eine Metapher für viele verschiedene Objekte verwendet werden kann und ein Objekt auch durch viele verschiedene Metaphern und Metonyme ausgedrückt werden kann (Boot – Kai, Boot – Meer, Meer – Ufer, Pflaume – Pfirsich). , Berg Muong Hung – Fluss Ma ,…) soDie Leser müssen ihre Bedeutung im spezifischen Kontext jedes Textes lernen. Im Gegensatz zu Metaphern existiert die Bedeutung von Symbolen jenseits des Textes, mit dem wir es zu tun haben. Denn der Prozess der Schaffung der Bedeutung jedes Symbols hat oft eine lange Geschichte von Tausenden von Jahren, die mit dem Prozess der Bildung des Konzepts der Welt der alten Menschen verbunden ist. Vielleicht seit prähistorischen Zeiten, zusammen mit dem Erscheinen von Stimmen, sind Wörter wie Himmel, Erde, Licht, Dunkelheit, Frühling, Sommer, Blut, Feuer, Donner, Blitz, Regenbogen usw. tief im Gehirn der Menschheit verwurzelt als Symbole. Daher sind Mythen, Legenden , Volkslieder, Märchen , mittelalterliche Literatur riesige Lagerhäuser von Symbolen. Die Legende von Lac Long Quan und Au Co schuf das Symbol “Dragon”, “Fairy”. Vietnamesische Volksliederschuf auch tolle Symbole wie „Storch“, „Schildkröte“. Das Symbol „Storch“ beschwört das Bild eines Bauern herauf, der an einem sonnigen Tag auf den Feldern schwimmt, unter Sonne und Regen den ganzen Monat, das ganze Jahr über. Die “Schildkröte” ist ein Symbol für den geduldigen Charakter und den Zustand der unterdrückten Person. In der nahöstlichen Literatur sind “tung”, “cuc”, “bamboo”, “mai” Symbole, die den Mut des Gerechten und Gentlemans zeigen. „Quan san“, „Bien Lai“ repräsentieren die tausendfache Entfernung, „Thu Thuy“ und „Thu Thi“ sind die Augen einer schönen Frau, „die Fähre“, „der Fluss“, „die Weidenmeile“ , “Truong Hoa” ist ein Ort der Trennung, Trennung, “Tempelglocken” am späten Nachmittag oder spät in der Nacht rufen Traurigkeit, Einsamkeit hervor usw. Wenn wir diese traditionellen Symbole nicht verstehen, verstehen wir sie nicht. Holen Sie sich die Tiefe der poetischen Kunst.

Xem thêm:  Chức năng chính của thanh công việc là gì

In der langen Geschichte des Bestehens wird die Bedeutung des Symbols ständig hinzugefügt. Zum Beispiel hat das Bild der Kiefer in Nguyen Trais Lied Tung Bedeutungen, die wir in der mittelalterlichen Poesie nicht finden können. Wenn die Kiefer von Nguyen Trai die gleiche Bedeutung hat wie eine Kiefer mit einem Gentleman, zeigt die Kiefer von Nguyen Cong Tru die entgegengesetzte Haltung der Kiefer gegenüber Menschen, was Transzendenz impliziert:

Bitte sei in deinem nächsten Leben kein Mensch

Lass eine Kiefer mitten im Himmel stehen und rufe mitten im Himmel schroffe Klippen

Wer die Kälte ertragen kann, klettert mit Kiefer.

In ähnlicher Weise können viele neue Bedeutungen gefunden werden, wenn Sie „Storch“ in Xuan Dieus Gedichten mit „Storch“ in Vuong Bots Gedichten, „Thach Sanh beat the eagle to save the fee“ in To Huus Gedichten mit Thach Sanh in dem Gedicht Fee vergleichen oder vergleichen Sie das Bild von „Sonnenuntergangsrauch“ in Huy Cans Lied Trang Giang mit dem Bild von „yen ba Giang Thuong“ in Thoi Hieus Lied Hoang Hac Lau. Das Symbol geht gewissermaßen in spezifische künstlerische Texte aus den Kultursprachen der Jahrhunderte ein und bringt all das semantische Gewicht ein, das es im Laufe der Jahrhunderte angesammelt hat. So. Anders als Metaphern, Metonymie, sind Symbole immer vieldeutig. Tatsächlich können wir keine Ebenen von Bedeutungen und Bedeutungen von Symbolen kombinieren.

Als historisches Phänomen wird das Symbol von Sprache, Psychologie, Staats- und Zeitverständnis beeinflusst. Für die Franzosen ist Schwarz ein Symbol für Trauer und Trauer, Blau die Farbe der Liebe und Gelb (Kurkuma) die Farbe der Krankheit. Für Vietnamesen kann Weiß die Farbe der Trauer sein, Zinnoberrot und Gold sind die Farben des Ortes der Autorität, des Adels und des Königs. Nach 1945 tauchten viele neue Symbole im kulturellen Leben und künstlerischen Schaffen Vietnams auf. Zum Beispiel „Hammer und Sichel“ (Hammer und Sichel haben keine Angst vor brutalen Waffen und Schwertern – To Huu), „Blaues Hemd“, „Braunes Hemd“ (Braunes Hemd passt zu blauem Hemd, Ländliche Gegenden stehen mit Städten auf. – To Huu.) ) ist das Symbol der Arbeiterklasse. Der “Bambusbaum” ist auch ein neues Symbol in der vietnamesischen modernen Poesie, das die sanften Tugenden, die Widerstandsfähigkeit und die intensive Vitalität des Volkes und der Nation zum Ausdruck bringt.

Neben Symbolen, die den gesunden Menschenverstand der Gesellschaft ausdrücken, gibt es in der Kunst viele Symbole, die von der kreativen Persönlichkeit von Schriftstellern und Dichtern geprägt sind. Die Titel vieler literarischer Werke des kritischen Realismus waren bedeutungsvolle Symbole, wie Red Number, Last Step, Light Out, Long Life usw. Poesie von Che Lan Vien, Han Mac Tu, Geschichten von Nguyen Minh Chau, Nguyen Huy Thiep viele einzigartige Symbole. Die von Schriftstellern und Dichtern geschaffenen Symbole enthalten oft viele verborgene, tiefgründige, sogar mysteriöse Bedeutungen. Um die Bedeutung solcher Symbole zu entdecken, müssen wir daher wirklich in den Stil, die Schaffensneigung und die gesamte künstlerische Welt des Schriftstellers und Dichters eindringen.VIELLEICHT MAGST DU

Mgid
Mgid

Chỉ có 7 tỷ phú da đen ở Mỹ – Họ là ai?

Anh chàng này đã tự chụp ảnh mình thành những bức ảnh của người nổi tiếng và đó là quả óc chó cuồng loạn

Đã đến lúc bắt kịp với một trong những vận động viên vĩ đại nhất mọi thời đại, vẻ đẹp của cô ấy

10 bí quyết làm đẹp đặc biệt khiến phụ nữ Ấn Độ trở nên xinh đẹp

QUY TRÌNH BẢO MẬT

  • Autor: Học viện quân y
  • Chuyên môn: Bác sĩ tâm thần
  • Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
  • Năm phát hành: 2007
  • Trạng thái: Đang chờ phê duyệt
  • Quyền truy cập: Cộng đồng


Video Hình thức cao nhất của biểu tượng là gì

Cảm ơn các bạn đã theo dõi bài viết Hình thức cao nhất của biểu tượng là gì! Kỵ Sĩ Rồng hi vọng đã mang đến thông tin hữu ích cho bạn. Xem thêm các bài viết cùng danh mục Hỏi đáp. Mọi ý kiến thắc mắc hãy comment bên dưới, chúng tôi sẽ phản hồi sớm nhất có thể. Nếu thấy hay hãy chia sẻ bài viết này cho nhiều người được biết. Kỵ Sĩ Rồng chúc bạn ngày vui vẻ