Họ đầu tiên ở nước ta là gì

Họ đầu tiên ở nước ta là gì? Bạn tìm kiếm thông tin về . Kỵ Sĩ Rồng tổng hợp thông tin từ nhiều nguồn. Hi vọng sẽ hữu ích với bạn. Nào chúng ta bắt đầu thôi

 3 ngôn ngữ

  • người Pháp
  • tiếng Nhật
  • người Trung Quốc

Vietnamesischer Họ tên

Wikipedia, bách khoa toàn thư miễn phí

Họ Việt Nam   bao gồm họ của người Kinh và các dân tộc thiểu số khác sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam. Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á nhưng lại thuộc khu vực văn hóa Đông Á nên khác với các nước Đông Nam Á khác, Việt Nam chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, dân tộc Việt Nam cũng vậy. Tuy nhiên, số lượng người Việt Nam không nhiều như người Trung Quốc. Hầu hết các họ chính ở Việt Nam đều có một triều đại trong lịch sử Việt Nam. Họ Việt Nam thông dụng [sửa | Sửa mã nguồn]  Thống kê họ Việt Nam   [1]

Hầu hết các họ phổ biến ở Việt Nam đều gắn với các triều đại phong kiến ​​Việt Nam. Họ phổ biến nhất của người Việt Nam (Kinh) cũng như tất cả người Việt Nam theo điều tra dân số năm 2005 là họ Nguyễn, chiếm khoảng 38% dân số Việt Nam   [1]   . Đây là họ của triều đại phong kiến ​​Việt Nam cuối cùng là triều Nguyễn. Các họ thông thường khác như Trần, Lê, Lý cũng là họ của các hoàng tộc đã từng trị vì Việt Nam như nhà Trần, nhà Lê – sau là nhà Lê và nhà Lý.

Sau đây là danh sách 14 họ phổ biến của Việt Nam, chiếm khoảng 90% dân số Việt Nam (2005). [Este]

TT – họ người Trung Quốc Tỷ lệ DS.
1 – Nguyên Nguyên 38,4%
2 – Lê Li 10,3%
3 – Bùi Pei 8,2%
4 – Phạm Quạt 6,7%
5 – khiêu vũ / võ thuật Wu 5,5%
6 – Hoang/Hyun màu vàng 4%
7 – Tun Du 3,4%
8 – Quạt Chảo 3,1%
9 – Chết tiệt Deng 2,5%
10 – trần nhà Danh sách 2,1%
11 – Xem Hu 1,3%
12 – Thêm Wu 1,3%
13 – Dương Trẻ Ngày thứ nhất%
14 – Ly mận 0,5%

Họ Việt Nam khác và họ của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam [sửa | chỉnh sửa mã nguồn]

Họ của con gái là tên đệm của cha cô ấy [sửa | chỉnh sửa mã nguồn]

Có tục lệ ở Thị trấn Sơn Động (Huyện Hoài Đức), Thị trấn Tân Lập (Huyện Đan Phượng), Thị trấn Cộng Hòa (Huyện Quốc Oai), Hà Nội và Thị trấn Liên Khê thuộc Huyện Khoái Châu, Tỉnh Hưng Yên cho con gái? mang họ cha nhưng lấy chữ đệm của cha làm họ. [2]   [3]   Do đó các họ Đắc, Định, Sỹ, Trí, Ngọc, Vân, Tiếp, Đoàn, Quế, Danh, Hữu, Khắc…   [4] Phong tục này không áp dụng cho các bé trai. Người dân những nơi này cho rằng họ của cha là họ “mượn” chứ không phải họ gốc, chữ đệm của cha là họ gốc. Con trai luôn lấy họ và tên đệm của cha, còn con gái lấy tên đệm của cha làm họ để không bị mất họ. [5]   [6]

Lịch sử các dân tộc thiểu số Việt Nam [sửa | chỉnh sửa mã nguồn]

Họ của cư dân các dân tộc thiểu số bản địa ở Việt Nam, thường xuất phát từ tín ngưỡng thờ vật tổ  [7]  [8]  .

Họ Việt Thái [sửa | chỉnh sửa mã nguồn]

Theo thống kê điều tra dân số Việt Nam năm 2009, người Thái là sắc tộc đông thứ 3 trong số 54 dân tộc ở Việt Nam. Họ người Thái ở Việt Nam phát triển từ 13 họ gốc ban đầu làː Lò, Lữ, Lường, Quàng, Tòng, Cà, Lỡ, Mè, Lù, Lềm, Ngân, Nông. Ngày nay người Thái Việt Nam có các họː Bạc, Bế, Bua, Bun, Cà, Cầm, Chẩu, Chiêu, Đèo (hay Điêu), Hoàng, Khằm, Leo, Lỡ, Lềm, Lý, Lò, Lô, La, Lộc, Lự, Lừ (họ này có mặt tại huyện Yên Châu, xã Mường Khoa, Ta Khoa huyện Bắc Yên của Sơn La), Lường, Mang, Mè, Nam, Nông, Ngân, Ngu, Nho, Nhọt, Panh, Pha, Phia, Quàng, Sầm, Tụ, Tày, Tao, Tạo, Tòng, Vang, Vì, Sa (hay Xa), Xin,… Một số dòng họ quý tộc có nhiều thế hệ làm thổ tù, phụ đạo các châu kỵ mi biên giới tây bắc Việt Nam như các họː Cầm, Bạc, Xa, Đèo (hay Điêu), Hà, Sầm, Lò,…[8] Cụ thể từ thời nhà Lê sơ đến nhà Nguyễn các triều đình phong kiến Việt Nam phong choː họ Xa thế tập phụ đạo ở châu Mộc (Mộc Châu), Mã Nam và Đà Bắc, họ Hà thế tập phụ đạo Mai Châu, họ Bạc thế tập ở Thuận Châu, họ Cầm phụ đạo Mai Sơn, Sơn La, Tuần Giáo và Phù Yên, họ Đèo (còn gọi là họ Điêu) thế tập tại Quỳnh Nhai, Lai Châu, Luân Châu và Chiêu Tấn,…[9][10]

Danh sách họ khác ít phổ biến hơn của người Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Khoảng 10% dân số Việt Nam còn lại có thể có các họ sau (xếp theo thứ tự chữ cái):

  • An
  • Anh
  • Ao
  • Ánh
  • Ân
  • Âu
  • Âu Dương
  • Ấu
  • Bạc
  • Bạch
  • Bàn
  • Bàng
  • Bành
  • Bảo
  • Bế
  • Biện
  • Bình
  • Bồ
  • Chriêng
  • Ca
  • Cái
  • Cai
  • Cam
  • Cảnh
  • Cao
  • Cáp
  • Cát
  • Cầm
  • Cấn
  • Chế
  • Chiêm
  • Chu/Châu
  • Chắng
  • Chung
  • Chúng
  • Chương
  • Chử
  • Cồ
  • Cổ
  • Công
  • Cống
  • Cung
  • Cự
  • Danh
  • Diêm
  • Diệp
  • Doãn
  • Du
  • Duy
  • Đan
  • Đàm
  • Đào
  • Đăng
  • Đắc
  • Đầu
  • Đậu
  • Đèo
  • Điêu
  • Điền
  • Điều
  • Đinh
  • Đình
  • Đoàn
  • Đoạn
  • Đôn
  • Đống
  • Đồ
  • Đồng
  • Đổng
  • Đới/Đái
  • Đương
  • Đường
  • Đức
  • Giả
  • Giao
  • Giang
  • Giàng
  • Giản
  • Giảng
  • Giáp
  • Hưng
  • H’
  • H’ma
  • H’nia
  • Hầu
  • Hạ
  • Hàn
  • Hàng
  • Hán
  • Hề
  • Hi
  • Hình
  • Hoa
  • Hoà
  • Hoàng Phủ
  • Hồng
  • Hùng
  • Hứa
  • Hướng
  • Kinh
  • Kông
  • Kiểu
  • Kha
  • Khà
  • Khai
  • Khâu
  • Khiếu
  • Khoa
  • Khổng
  • Khu
  • Khuất
  • Khúc
  • Khương
  • Khưu
  • Kiều
  • Kim
  • Ly
  • La
  • Lã/Lữ
  • Lãnh
  • Lạc
  • Lại
  • Lăng
  • Lâm
  • Lèng
  • Lều
  • Liên
  • Liêu
  • Liễu
  • Linh
  • Loan
  • Lỗ
  • Lộ
  • Lộc
  • Luyện
  • Lục
  • Lương
  • Lường
  • Lưu
  • Mùa
  • Ma
  • Mai
  • Mang
  • Mạc
  • Mông
  • Mạch
  • Mạnh
  • Mâu
  • Mầu
  • Mẫn
  • Mộc
  • Mục
  • Miêu
  • Ngạc
  • Ngân
  • Nghiêm
  • Nghị
  • Ngọ
  • Ngọc
  • Ngôn
  • Nguyên
  • Ngũ
  • Ngụy
  • Nhan
  • Nhâm
  • Nhữ
  • Ninh
  • Nông
  • Ong
  • Ông
  • Phi
  • Phí
  • Phó
  • Phong
  • Phù
  • Phú
  • Phùng
  • Phương
  • Quản
  • Quán
  • Quang
  • Quàng
  • Quảng
  • Quách
  • Quế
  • Quốc
  • Quyền
  • Sái
  • Sầm
  • Sơn
  • Sử
  • Sùng
  • Tán
  • Tào
  • Tạ
  • Tăng
  • Tấn
  • Tất
  • Tề
  • Thang
  • Thái
  • Thành
  • Thào
  • Thạch
  • Thân
  • Thẩm
  • Thập
  • Thế
  • Thi
  • Thiều
  • Thiệu
  • Thịnh
  • Thiềm
  • Thoa
  • Thôi
  • Thóng
  • Thục
  • Tiêu
  • Tiết
  • Tiếp
  • Tinh
  • Tòng
  • Tôn
  • Tôn Nữ
  • Tôn Thất
  • Tông
  • Tống
  • Trang
  • Tráng
  • Trác
  • Trà
  • Tri
  • Triệu
  • Trình
  • Trịnh
  • Trung
  • Trưng
  • Trương
  • Tuấn
  • Từ
  • Tưởng
  • Ty
  • Uông
  • Ung
  • Ưng
  • Ứng
  • Việt
  • Vàng
  • Vạn
  • Văn
  • Vi
  • Viêm
  • Viên
  • Vòng
  • Vương
  • Vưu
  • Xa
  • Xung
  • Yên

Bảng danh sách trên có thể phân chia theo các nhóm dân tộc chủ yếu sống trên lãnh thổ Việt Nam theo địa bàn cư trú sau:

  • Họ người Kinh và người Việt gốc Hoa, thường được Hán hóa mạnh kể từ đầu Công nguyên, trong thời kỳ Bắc thuộc lần 2 trở đi.
  • Họ người dân tộc thiểu số miền núi phía bắc và bắc Trung Bộ (Tày, Thái,…), mang nguồn gốc từ tín ngưỡng tô-tem của xã hội thị tộc nguyên thủy bản địa nhưng theo phụ hệ.
  • Họ người các dân tộc thiểu số Tây Nguyên (một số còn theo chế độ mẫu hệ như Người Ê Đê,…)
  • Họ người Chăm Nam Trung Bộ và Nam Bộ (nguyên gốc, và Việt hóa (Chế,..))
  • Họ người Khmer Nam Bộ (nguyên gốc, và Việt hóa (Thạch, Sơn, Trương,…)) họ Liêng.
  • Họ người Ba Na Kon Tum trước 1975 thì thường kèm theo tên thánh theo đạo Công giáo, sau 1975 để phân biệt nên chính phủ đặt A là con trai như A Lơi A Minh, còn gái thì Y Blan Y Thoai… cho có họ.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. a b c Lê Trung Hoa (2005). Họ và tên người Việt Nam. Hà Nội, Việt Nam: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội (Social Sciences Publishing House).
  2. ^ “Bi hài chuyện con gái không được mang họ cha”. Báo điện tử Dân trí. 2 tháng 3 năm 2010.
  3. ^ “Nơi con gái không mang họ cha”. Báo Giáo dục và Thời đại. 3 tháng 10 năm 2020.
  4. ^ “Kỳ lạ làng con gái không mang họ cha”. Báo Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh. 3 tháng 11 năm 2014.
  5. ^ “Con gái không được mang họ cha (2): Rắc rối chuyện “dồn tên đổi họ””. Giadinh.net.vn. 12 tháng 4 năm 2010.
  6. ^ “9 dòng họ ở Hưng Yên nhất loạt xin… đổi họ”. VnExpress.net. 15 tháng 3 năm 2004.
  7. ^ “Văn hóa dòng họ trong dòng chảy hôm nay, báo Nghệ An, ngày 26 tháng 8 năm 2013”. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2014.
  8. a b Các dân tộc ở Việt Nam cách dùng họ và đặt tên, Nguyễn Khôi, phần 1
  9. ^ Kiến văn tiểu lục, Lê Quý Đôn toàn tập, trang 309-312.
  10. ^ Hưng Hóa kỷ lược, Phạm Thận Duật toàn tập, trang 142.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

hiệnTên cá nhân trong các nền văn hóa khác nhau
hiệnTổng quan về Việt Nam

Thể loại:

  • Họ người Việt Nam

Thể loại ẩn:

  • Trang đưa đối số thừa vào bản mẫu

Sơ Lược Về Các Dòng Họ ở Việt Nam

Theo truyền thuyết, thuỷ tổ dân tộc Việt Nam là Kinh Dương Vương, hiện có mộ tại làng An Lữ, huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc.
Kinh Dương Vương là dòng giống Lạc Việt và là vua nước Việt vào quãng năm 2879 trước Công nguyên (TCN). 1.1. Thời-Gian xuất-hiệnTheo truyền thuyết, thuỷ tổ dân tộc Việt Nam là Kinh Dương Vương, hiện có mộ tại làng An Lữ, huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc ?.Kinh Dương Vương là dòng giống Lạc Việt và là vua nước Việt vào quãng năm 2879 trước Công nguyên (TCN).
Sau đó Kinh Dương Vương nhường ngôi cho con là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ, và bà sinh ra 100 trứng, nở ra 100 con; 50 con theo mẹ lên núi, 50 con theo cha về biển. Người con trưởng, trong số các con theo mẹ lên núi (nay là núi Phong Sơn, thuộc huyện Phong Châu, tỉnh Vĩnh Phúc), được tôn làm Vua gọi là Hùng Vương.
Các vua Hùng truyền được đến đời thứ 18, gần 2621 năm (2879 – 258 TCN). Theo dã sử ở đền Hùng, có vua Hùng trị vì trên 300 năm, và các vua khác trung bình đều trên 100 năm (1) . Như vậy, nếu xác định các vua Hùng thuộc dòng họ Hùng đầu tiên ở nước Việt Nam, thì các dòng ho. ở Việt Nam đã xuất hiện từ trên bốn ngàn năm – tương dương với sự xuất hiện các dòng họ ở Trung Quốc. Việc đặt tên kèm theo bắt đầu có từ đời vua Phục Hy (2852 TCN). Vua Phục Hy đã quy định mọi người Trung Quốc đều phải có gia-tính, và cấm lấy vợ, lấy chồng trong những người cùng gia-tính có quan hệ huyết thống trực hệ trong 3 đời.
Đến đời Triệu Dương Vương (112-111) bị vua Hán Vũ Đế nhà Hán đem quân xâm lược, đổi nước Nam Việt thành quận Giao Chỉ và bắt đầu 1000 năm bắc thuộc lần thứ nhất.Như vậy, có thể nói từ trước Công Nguyên ở Việt Nam đã có 3 dòng họ: Hùng, Thục, Triệu, trong đó họ Triệu gốc ở đất Nam Hải – Quảng Đông.Tuy nhiên, như chúng ta đã biết, ở thời kỳ này kinh tế Việt Nam thuộc vào các thời kỳ đồ đá – đồ đồng. Chế độ quản lý xã hội là chế độ công xã nguyên thủy, theo chế độ Mẫu Hệ là chính. Ngay các vua Hùng, 50- con theo mẹ lên núi, cũng đã nói lên đìều đó. Người đàn ông không có quyền trong xã hội, chỉ có người mẹ mới có quyền; thế thì tại sao lấy họ bố để thừa kế? Điều này trong sử sách của ta hầu như chưa được quan tâm, và cũng chưa được giải đáp.
Tuy nhiên, theo dã sử chúng ta cũng biết được một điều: Vào những năm 40-43 sau Công Nguyên, nghĩa là vào những năm đầu tiên của thời kỳ Bắc thuộc, đất nước Việt Nam có cuộc khởi nghĩa đầu tiên chống quân Hán Trung Quốc.
Chúng ta chưa bao giờ biết người cha thân sinh của Hai Bà Trưng là ai ?. Chúng ta chỉ biết Hai bà Trưng sinh ra ở huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc, gia đình có nghề chăn tằm. Nghề chăn tằm gọi kén chắc là kén “chắc”, kén mỏng là kén nhị. Tên Hai Bà Trưng – Trắc và Nhị – từ đó mà ra. Chúng ta không xác định được phụ thân của Hai Bà Trưng; do đó, không xác định được đầy đủ về dòng họ Trưng của Hai Bà. Rất tiếc đến nay trong thống kê các dòng họ ở Việt Nam không có dòng họ Trưng.
Ngay cả đến Thi Sách (chồng của Bà Trưng Trắc), sau khi bị Tô Định giết, dòng họ Thi hiện nay cũng không có trong dòng họ Việt Nam.
Hơn 200 năm sau (khoảng 248 SCN) Bà Triệu lại cầm đầu cuôc khởi nghĩa thứ hai chống quân Ngô- Trung Quốc. Theo dã sủ, chúng ta được biết Bà Triệu quê tại tỉnh Thanh Hóa. Sau này lịch sử gọi bà là Triệu Thị Trinh hoặc Triệu Trinh Nương.Chúng ta không biết vị thân sinh ra Bà Triệu là ai. Trong lịch sử chỉ nói đến tên người anh là Triệu Quốc Đạt. Phải chăng tên Triệu Quốc Đạt chỉ là tên các nhà viết sử sau này đặt ra cho đủ họ và tên?. 
Như vậy có thể nói ở thời hai Bà Trưng, Bà Triệu (40-248 SCN ), đất nước Việt Nam vẫn ở thời kỳ mẫu hệ. Trong toàn xã hội, phụ nữ quyết đinh là chính. Vì vậy, việc dòng họ tồn tại theo khả năng di truyền của người cha là việc cần xem xét. Khó có thể tồn tại trong những điều kiện như vậy. Ngay cả đến Mai Thúc Loan (Mai Thúc Đế) các sử sách chỉ cho biết mẹ của Mai nhà nghèo, phải đi kiếm củi nuôi con, và cũng chỉ biết là người làng Mai, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
Sau thời kỳ Bà Triệu 300 năm, đất nước ta vẫn ở trong tình trạng Bắc thuộc, thời kỳ các nhà Ngô, nhà Tấn và Đông Tấn, rồi đến các nhà Lương, Trần kế nghiệp cai quản.
Đến thời kỳ khởi nghĩa thứ ba, lập nước Vạn Xuân của nhà Tiền Lý (544-602) do Ông Lý Bôn (Lý Bí) sáng lập. Có lẽ đến nhà Tiền Lý thì các dòng họ Việt Nam bắt đầu xuất hiện. Vì từ thời kỳ Lý Bí, sinh ngày 12 tháng 9 năm Qúy Mùi (17/10/503), đã ghi rõ họ và tên trong gia đình: Bố là Lý Toàn, Trưỏng bộ lạc; mẹ là Lê Thị Oánh, người Ái Châu (Thanh Hóa); và còn đượcbiết Lý Toàn người gốc phương Nam Trung Quốc.
Trước thời kỳ Hai Bà Trưng, bà Triệu, xã hội Việt Nam còn ở thời kỳ công xã nguỳên thủy, thời kỳ mẫu hệ, con đẻ ra phụ thuộc vào mẹ là chính. Tõi thời kỳ đó, văn hóa Việt Nam chưa phát triển. Chúng ta chưa có chữ viết; nếu có thì chữ viết cổ của Việt Nam cũng không tồn tại. Do đó, sẽ không có cơ sở khoa học để xác định dòng họ được lưu truyền như thế nào !
Mặt khác chúng ta cũng biết rằng, sống trên đất nước Việt Nam, ngoài người Kinh còn có trên 50 dân tộc anh em. Trong những dân tộc thiểu số này, người Mường là một trong những dân tộc Việt cổ nhất và gần người Kinh nhất. Trước Cách Mạng Tháng Tám, trừ tầng lớp qúy tộc Lang, Đạo của người Mường có tên dòng họ riêng, còn đại bộ phận người Mường đều chỉ có chung một họ, là họ Bùi. Mặc dầu những người này sống chung trong một thôn, bản, nhưng không có quan hệ huyết thống. Ngoài ra, dân tộc Vân Kiều ở Quảng Trị là một thí dụ điển hình về dân tộc Việt Nam không có họ. Trong kháng chiến chống Pháp (sau năm 1945) người Vân Kiều lấy họ Hồ (họ của Chủ Tịch Hồ Chí Minh) là họ chung cho dân tộc mình, để nêu lên ý chí quyết tâm của dân tộc Vân Kiều quyết theo Cụ Hồ đi đánh giặc Pháp.Như vậy có thể nói, thời kỳ xuất hiện các dòng họ ở Việt Nam hiện nay chưa được xác định. Đây chính là một vấn đề tồn tại trong việc nghiên cứu lịch sử các dòng họ ở Việt Nam.
1.2 Xuất Xứ Các Dòng Họ ở Việt Nam
Căn cứ vào tài liệu cổ sử, khảo cổ, tân nhân văn Minh Triết, và theo các tư liệu dã sử ở Việt Nam và nước ngoài, thì từ khi chưa có nước Trung Hoa, dân tộc Văn Lang do Họ Hồng Bàng lãnh đạo đã là môt dân tộc tiến bộ rất sớm. Trong Hồng Bàng Kỷ suốt Miền Đông và Miền Nam nước Tàu, gồm cả lưu vực Sông Dương Tử xuống Hà Tĩnh bây giờ, đều do Văn Lang làm chủ. Nước Văn Lang gồm nhiều thị tộc lớn có tên chung là Bách Việt. Tỉnh Triết Giang – sinh quán của Ông Hồ Hưng Dật, được coi là Thủy Tổ họ Hồ ở Việt Nam – là trung tâm dân Việt trong Thiên Niên Kỷ I trước Công Nguyên, và kinh đô nước Văn Lang cũng ở đó (Thiệu Hưng và Cối Kê). Cho đến ngày nay vẫn còn được xem như là một tỉnh nhỏ nhất nhưng dân trí thì lại tiến bộ nhất nước Tàu.
Năm 496 trước Công Nguyên, Hùng Vương Thứ 6 mà người Tàu gọi là Câu Tiễn, chiếm nước Ngô thì nước Việt trở thành bá chủ từ Sơn Đông xuống Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía Tây gồm cả Việt Thường (2), giáp Tứ Xuyên bây giờ. Con trưởng Câu Tiễn được đặt làm vua Lạc Việt ( từ Quảng Tây, Vân nam, xuống Trung Việt), lấy niên hiệu là Hùng Vương Thứ 7. Năm 333 TCN, nước Việt bị nước Sở đánh bại, dân Việt phải rút lui về Phương Nam và chia thành bốn phái chính:
Đông Việt (Đông Âu, Việt Đông Hải) ở Triết Giang, sinh quán của Hồ Hưng Dật.Mân Việt ở vùng Phúc Kiến.Nam Việt ở vùng Quảng Đông, Quảng Tây.Lạc Việt cũng gọi là Tây Âu Lạc (Tây Âu và Lạc Việt hợp lại) ở Vân Nam, Quảng Tây, BắcViệt và Trung Việt bây giờ.Suốt 12 thế kỷ, trải qua cả thời Tần, Hán, v.v., các chi phái trở thành châu, quận của Đế Quốc Trung Hoa, danh hiệu đổi. Tây Âu Lạc bị Nam Chiếu chiếm vào thế kỷ thứ 9 trong thời Cao Biền, và trong thời Ngũ Quí Sử ghi nhận:Đông Việt thành Ngôn Việt ở Triết Giang, sinh quán của Hồ Hưng Dật.Mân Việt vẫn là Mân Việt ở vùng Phúc Kiến.Nam Việt, Lưu Cung đổi ra Đại Việt, khi xưng đế lại đổi ra Nam Hán.Lạc Việt dã thành Giao Châu và kế đó là Đại Cồ Việt tự chủ.
Chính vào thời Ngũ Quí này, Ông Hồ Hưng Dật từ Ngô Việt (Triết Giang) xuống Giao Châu (Nam Việt) vào khoảng cuối Hậu Đường (935-937) trong thời Dương Diên Nghệ. Đến năm 960, Nhà Tống ngự trị toàn cõi Trung Hoa, thì trên bản đồ chỉ còn lại đát của phái Lạc Việt, tức là nước Việt Nam mà thôi.
Ngày nay các nhà khoa học về Bác Cổ và Tân Nhân Văn nhận định rằng Việt Nam là nơi ký thác và cũng là dân tộc thừa kế nền văn hóa của Đại Tộc Bách Việt. Một nền văn hóa cao, không đâu xa xôi mà ở ngay trong tiềm thức, trong tập tục, trong tiếng nói, trong tư tưởng của con người Việt Nam bây giờ.
Giáo sĩ Cadière và bác học Paul Mus nói: “Dân Tộc Việt Nam có một nền triết lý siêu hình cùng cực vi vì nó đã khảm vào đời sống của họ rồi.” Giáo sư Kim Định, một triết gia giỏi hiện nay, đã minh khải Chủ Thuyết Nhân Chủ được đúc sẵn trong nền văn hóa nói trên, phát xuất từ tổ tiên Bách Việt, căn cứ vào Cổ Sử , Bác Cổ và Tân Nhân Văn. Trong số hàng ngàn đồ cổ tìm được từ cuối thế kỷ 19 sang giữa thế kỷ 20 tại vùng Đông Nam Á, có 165 chiếc đồng cổ đã làm các học gỉa Âu-Mỹ phải ngạc nhiên vì sự tiến hóa của dân Việt Nam từ thời thượng cổ, và Việt Nam đã có một nền văn hóa siêu tuyệt trong thời khuyết sử.
Trong 165 trống đồng thì trên 100 chiếc tìm được tại Việt Nam, nước Tàu đứng hàng nhì với 30 chiếc, Thái Lan và Indonesia dộ 10 chiếc, Lào 4 chiếc, và Phi Luât Tân 1 chiếc; các nưóc Nhật Bản và Đại Hàn cho đến 1975 chưa tìm thấy chiếc nào.
Tại Việt Nam, trống đồng và các cổ vật tìm được tại các vùng: Sông Đà (Hòa Bình), Ngọc Lũ (Hà Nam), Phùng Nguyên (Phú Thọ), Đào Thịnh (Yên Bái), Hoàng Hà (Hà Đông), Đông Hiếu (Nghe An), Đông Sơn, Quảng Xương, Nông Cốn và Núi Nưa (Thanh Hóa), Bắc Sơn (Lạng Sơn), Mun, Văn Điển, v.v.. Ước lượng theo khoa học ngày nay, trống mới nhất khoảng hai thế kỷ sau Công Nguyên; chiếc cổ nhất khoảng 30 thế kỷ trước Công Nguyên.
Nhiều trống đòng cổ Viet Nam đượcgiữ tại các bảo tàng viện ở Pháp, Đức Mỹ… — Viện Quốc Gia Bảo tàng Hà Nội, xưa là Viễn Đông Bác Cổ, hiện nay còn 3 cái vào loại rất thời danh, lấy tên ba chỗ tìm được: Hoàng Hà, Đông Hiếu, và Ngọc Lũ.
Chiếc trống đồng Ngọc Lũ là chiếc quý nhất được xem như là tiêu buểu cho tất cả các trống đồng và là bản kết tinh của nền văn hóa siêu tuyệt của Đại Việt Tộc, và cũng là của riêng văn hóa Việt Nam nữa.
Triết gia Kim Định đã phân tích, dẫn giảng tỉ mỉ các hình chạm trổ trên trống đồng Ngọc Lũ; mỗi một chi tiết nơi trống đồng gắn liền với huyền sử, cổ sử, nêu rõ nguyên lý Chủ Thuyết Nhân Chủ đã có từ thời khuyết sử mà hiện còn nhiều chứng tích. Chủ Thuyết đó thể hiện ở nơi phong tục, ngôn ngữ, tư tưởng và tiềm thức con người Việt Nam thời nay.
Minh khải của triết gia Kim Định đem lại niềm tin mới cho dân Việt Nam, đồng thời cũng làm cho học gỉa Đông Tây ngạc nhiên và tìm hiểu. Ai ngờ được một nền văn hóa đã bị chôn vùi vì sự đô hộ hoặc vì ảnh hưởng quyền uy của Tàu suốt mấy ngàn năm, thì nay lại sáng chói lên nhờ ở công trình tìm bới chứng tích ngay trong sử sách và văn hóa Tàu (vào giữa thế kỷ 19, vua Tự Đức còn phải nhờ sứ Tàu về phong vương). Nền gốc xa xưa mà người Tàu nhìn là của họ, thì nay bật ra là của Đại Tộc Việt mà Việt Nam là đích tôn đã thừa kế, dầu vô ý thức, cho đến ngày nay. Thật là vẻ vang cho dân tộc Việt Nam.
Trạng nguyên Hồ Hưng Dật sống cách đây 1000 năm; chắc chắn là ông am tường văn hóa Việt Tộc. Và phải chăng nhờ đọc và hiêu cuốn sách “không có chữ” cổ nhất thế gian là Kinh Dịch xuất phát từ chủng tôc Việt, mà biết thời thế; cho nên đã dem quyến thuộc hồi cư về Lạc Việt, là nhóm duy nhất của Bách Việt còn sống sót không bị đồng hóa vậy.
Ông đã hồi cư rấtđúng lúc để phục vụ dân tộc. Hai thành qủa chói chang, rực rỡ, ông để lại cho hậu thế là:
Nền độc lập nước nhà: Ông giúp hai triều NGÔ-ĐINH chiếm lại nền tự chủ từ tay người Tàu, và dẹp yên nội loạn.
Muôn vàn cháu chắt được vẻ vang làm dân tộc Việt Nam, một nước dám tự hào về nỗ lực sinh tồn và nền văn hiến cao độ.
Ông là anh hùng cứu quốc của Việt Nam, dầu vô danh trong quốc sử, nhưng đã có Hồ Qúy Ly, QuangTrung… là cháu chắt đại diện tiêu biểu (3).
Như đã nêu trong phần 1.1, thực tế sự xuất hiện các dòng họ Việt Nam hiện nay có thể sau thời kỳ Bà Trưng – Bà Triệu.
Cũng như dòng họ Lý – thời Tiền Lý của ông Lý Bí (Lý Bôn) – một số dòng họ lớn khác ở Việt Nam cũng đều có xuất xứ từ Nam Trung Quốc (Triết Giang, Phúc Kiến, Quảng Đông, …) trong đó đại bộ phận dòng giống Bách Việt, không chịu Hán-hóa di cư sang.
Họ là những quan lại, hoặc các sĩ phu bất phùng thời. Đén đất Lạc Việt, điều kiện thổ nhương thuận lợi, phong cảnh đẹp đẽ, khí hậu ấm áp, họ đã vui lòng định cư ở lại. Phần đông trong số họ đã tổ chức hôn nhân với các phụ nữ Việt ở địa phương, và vẫn theo mẹ là chính. Trường hợp Mai Thúc Loan (Mai Hắc Đé), Lý Công Uẩn, Mạc Đĩnh Chi đều không biết bố là ai là như vậy.
Các dòng họ này sang Việt Nam vào thời kỳ Nhà Hán, đầu thời kỳ Nhà Đường (600-900), thí dụ như:
Họ Lý: Lý Bí (Lý Bôn) tức vua Lý Nam Đế (544-548). Tổ tiên Lý Bí sang Việt Nam từ thời Tây Hán, khoảng đàu Công Nguyên, ở Long Hưng, xã Từ Đường, huyện Thụy Anh, tỉnh Thái Bình.
Họ Đỗ: Đỗ Cảnh Thạc, gốc Quảng lăng, Quảng Châu, sang Việt Nam thời kỳ Thập Nhị Sứ Quân, lập nghiệp ở Quảng Oai, Hà Tây.
Họ Hồ: Hồ Hưng Dật, thủy tổ họ Hồ ở Việt Nam, đậu trạng nguyên đời vua Hán Ản Đế, sinh quán huyện Vũ Tân, tỉnh Triết Giang, được cử sang Việt Nam làm Thái Thú Diễn Châu thời Hậu Hán. Cháu 16 đời của Hồ Hưng Dật là Hồ Qúy Ly (vua nhà Hồ); cháu 28 đời là vua Quang Trung Nguyễn Huệ (Hồ Thơm).
Theo Việt Nam Cương Giám Mục, họ Hồ là con cháu Ngu Thuấn, một ông vua thời thượng cổ Trung Quốc, tương đương các thời vua Hùng ở Việt Nam. Ngu Thuấn được vua Đường Nghiêu truyền ngôi. Đường Nghiêu thuộc dòng Hán tộc ở phía Bắc Trung Quốc. Ngu Thuấn thuộc dòng Bách Việt ở phía nam rung Quốc.
Con Ngu Yên (dòng dõi Ngu Thuấn) gọi là Hồ Công, sau dùng chữ Hồ làm họ; nên Hồ Qúy Ly (vua Hồ ở Việt Nam) mới đặt quốc hiệu là Đại Ngu.
Dòng Bách Việt ở Trung Quốc bị Hán-hóa, còn dòng Lạc Việt duy nhất không bị Hán-hóa.
Họ Hồ sang Việt Nam chủ yếu sống ở vùng Nghĩa Đàn, Qúy Châu, thỉnh Nghệ An (4).
Họ Nguyễn: Nguyễn Phu, thủy tổ Nguyễn Bác, Nguyễn Trãi, Nguyễn Kim, …, là Thứ sử Giao Châu
thời Đông Tấn (317-319), sau đó ở lại Việt Nam lập nghiệp ở Thanh Hóa. Nguyễn Siêu, một trong 12 sứ quân thời Đinh Bộ Lĩnh, quê ở Đà Dương, Phúc Kiến, Trung Quốc; tổ tiên sang Việt Nam từ đời nhà Đường.
Họ Trần: Trần Đức – cha Trần Lãm, một trong 12 sứ quân thời Đinh Bộ Lĩnh – gốc quê ở Quế Lâm, Quảng Đông, Trung Quốc, sang Viẹt Nam từ thời nhà Đường.
1.3 Thống Kê Các Dòng Họ ở Việt Nam
Hiện nay chưa có số liệu thống kê chính xác các dòng họ ở Việt Nam. Theo tài liệu của người Pháp -Pierre Gourou (1930) – thì ở Việt Nam có 202 dòng họ (5). Dã Lan Nguyễn Đức Dụ trong cuốn Gia Phả – Khảo Luận và Thực Hành (1932) ước tính khoảng gần 300 họ. Gần đây, theo số liệu đang ký ở Hội các dòng họ Việt Nam thuộc tổ chức UNESCO – Việt Nam, và thống kê sơ bộ ỏ các địa phương thì dòng họ ở Việt Nam cho đến nay chúng tôi chỉ mới biết được 209 dòng họ.
Số liệu này có thể chưa chính xác. Tuy nhiên, cũng có thể sơ bộ nhận định rằng, sai số chủ yếu là số lượng các dòng họ thuộc các dân tộc thiểu số, do điều kiện địa lý và hoàn cảnh xã hội chưa có thể thống kê hết. Còn số lượng các dòng họ của dân tộc Kinh ở Việt Nam cũng chỉ trên dưới 180 dòng họ.
Trong lịch sử Việt Nam, do các điều kiện khác nhau, có nhiều dòng họ phải thay đổi tên của dòng họ mình. Tuy nhiên sự thay đổi này chỉ xảy ra ở các Chi, Nhánh của dòng họ đó, chứ không phải toàn thể dòng họ đó ( Chi, Nhánh các dòng họ Tôn Thất đã mất quyền thống trị; Chi, Nhánh các dòng họ bị nhà đương quyền khép án “tru di tam tộc”, v.v.). Nhưng hầu hết sự thay đổi đó đều là chuyển tên dòng họ mình sang một dòng họ khác đã có trên đát nước. Rất khó có trường hợp tách hẳn thành một dòng họ mới (vì như vậy sẽ tạo nên một sự nghi ngờ của các quan chức địa phương đương quyền…). Và như vậy, trong thực tế, chỉ làm tăng giảm số người trong từng dòng họ, còn số lượng dòng họ đã có không thay đổi.
Verglichen mit der Anzahl der Clans in anderen Ländern der Welt ist die Anzahl der Clans in Vietnam nicht viel. Laut Forschungsunterlagen von Professor Phan Van Cac (Institut für Han Nom) gibt es heute in China 926 Familienlinien, in Korea 274 und in England 16.000. Die meisten in der Welt ist Japan mit 100.000 Nachnamen.
Auszug aus dem Buch „Dang Vu Pha Ky“ von Dang Phuong Nghi

Xem thêm:  Phương pháp học tập cá nhân là gì

Herkunft der vietnamesischen Nachnamen

 Es gibt keine historischen Aufzeichnungen über die Herkunft von Nachnamen in Vietnam. Daher müssen wir die folgenden Probleme untersuchen:(1) Seit wann haben Vietnamesen Nachnamen?(2) die Einführung chinesischer Nachnamen in die vietnamesische Gesellschaft(3) Nachnamen, die von Vietnamesen selbst vergeben wurden(4) Vietnamesen werden gezwungen oder nachgeahmt, Nachnamen zu erhalten(5) Skizzieren Sie die Herkunft der häufigsten Nachnamen in Vietnam.

1. Vietnamesen haben immer Vor- und Nachnamen: In der Untersuchung des Hung Vuong-Kaisertitels in Kapitel eins haben wir den Standpunkt vertreten, dass der Hung Vuong-Kaisertitel von letzterem den ursprünglichen Führern unseres Landes verliehen wurde, sodass nicht gesagt werden kann, dass Vietnam Nachnamen von hatte Hung-Vuong-Periode vor mehr als 5000 Jahren. Zu diesem Zeitpunkt hatte unser Volk nicht das Konzept der patriarchalischen Abstammung wie die Chinesen. Zur Zeit von Thuc Phan und Trieu Da (257-111 v. Chr.) können wir nicht sagen, dass Vietnam einen Familiennamen hatte. Diese beiden Männer sind Chinesen, weil sie in unser Land gekommen sind, um gegen Qin und Han zu kämpfen. Zur Zeit von Hai Ba Trung befand sich die vietnamesische Gesellschaft noch in der matriarchalischen Zeit. Ethologen zufolge tauchten Nachnamen gleichzeitig mit der Geburt des Patriarchats auf. Erst wenn sich die vietnamesische Gesellschaft entwickelt hat, plus der Einfluss der chinesischen Kultur, und es chinesisch-vietnamesische heterosexuelle Ehen gibt, Erst dann hatte Vietnam offiziell einen Familiennamen und diese Nachnamen ähnelten den chinesischen Nachnamen. Diese Schlussfolgerung ist akzeptabel, da viele Montagnards in Vietnam, die weniger von der chinesischen Kultur beeinflusst waren, bis Mitte des 20. Jahrhunderts keinen Familiennamen hatten. So hatte das früheste Vietnam um den Beginn des n. Chr. einen Familiennamen.

Xem thêm:  Công suất điện của một đoạn mạch là gì

Wenn wir uns jedoch nicht irren, ist Vietnam nach China das zweite Land der Welt, das bald ein patriarchalisches Familiennamensystem haben wird. Erst im 10. Jahrhundert nahm das europäische Familiennamensystem Gestalt an und wurde erst im 16. Jahrhundert vollendet. Laut Herrn Elsdon C. Smith hatten in Japan alle Japaner erst unter Kaiser Meiji einen Familiennamen. Laut der Encyclopedia Britannica imitieren die Völker Afrikas seit dem frühen 20. Jahrhundert den Westen, um ihre Nachnamen anzunehmen.1935 befahl die türkische Regierung den Menschen, Nachnamen anzunehmen. Zu Beginn der Zeitrechnung hatten die Juden keinen Familiennamen, nur einen Namen, die Menschen hießen Jesus, Maria und Paul. Erst Anfang des 19. Jahrhunderts hatten die Juden einen Nachnamen. Viele der von diesem Volk gewählten Nachnamen sind Wörter, die mit der jüdischen Priesterschaft verbunden sind, wie Cantor, Canterini, Kantorowicz, was niedrigerer Priester bedeutet,

2. Der Import chinesischer Nachnamen nach Vietnam:  Nachnamen in Vietnam stammen aus zwei Hauptquellen: Die eine sind die chinesischen Nachnamen, die andere sind die Familiennamen, die von den Vietnamesen selbst vergeben wurden. Was die chinesischen Nachnamen betrifft, die wir heute haben, wurden sie durch die folgenden historischen Perioden in Vietnam eingeführt:

Design der Familiengenealogie
a. Die Zeit der Kolonialisierung:  Mehr als 1000 Jahre war Vietnam von China kolonisiert, die alte Geschichte gibt uns viele Beweise dafür, dass Chinesen wie Mandarinen, Soldaten, Adlige, Kaufleute, Konfuzianer, Kriminelle ins Exil geschickt wurden, arme Leute in unser Land gekommen sind. Sie und ihre Familienmitglieder blieben, heirateten wieder mit den Vietnamesen und wurden zu Eingeborenen. Es waren diese Klassen von Menschen, die ihnen die meisten Nachnamen gaben, die Vietnamesen heute haben. Bitte nennen Sie drei typische Beispiele zur Veranschaulichung:

Xem thêm:  Môi trường làm việc lý tưởng của bạn là gì

Ly Bon, auch bekannt als Ly Bi, ist chinesischer Abstammung. Die Vorfahren von sieben Generationen wanderten nach Giao Chau aus, um vor dem Ende der Qin- und Han-Dynastien Zuflucht zu suchen. Ho Quy Ly, ursprünglich aus Zhejiang, dessen Vorfahre Ho Hung Dat ist, wanderte während der Ngu Quy Dynastie (907-959) in unser Land im Dorf Bao Tut, Distrikt Quynh Luu, Thanh Hoa, ein. In Bezug auf die Kreuzung vietnamesischer und chinesischer Eltern ist laut Herrn Vu Hiep der Vorfahr der Vu-Familie in Vietnam der Vorfahr Vu Ho, der 841 die Position von Kinh Luoc Su innehatte. Er hatte eine vietnamesische Mutter namens Nguyen Thi Duc und ein Vater namens Mr. Vu Huy stammt aus Fujian, China.

b. Minh Huong-Leute: Die Minh Huong kamen im 17. und 18. Jahrhundert in unser Land, diese Gruppe konzentrierte sich stark auf Zentral- und Südvietnam und brachte einige chinesische Nachnamen nach Vietnam. Historische Persönlichkeiten wie Trinh Hoai Duc, Mac Thien Tich und der Dichter Quach Tan sind alle Minh Huong-Leute. 1965 gab es in Cho Lon 80 Milliardäre chinesischer Herkunft, die “Könige” genannt wurden. Diese „Könige“ haben Nachnamen, die wir oft in der vietnamesischen Gesellschaft sehen, wie zum Beispiel: Lam Hue Ho arbeitet in der Kreditindustrie, Ly Long Than: Textil, Ma Hi: Mecco, Tran Thanh: Mononatriumglutamat, Dao Mau: : Bank, Truong Vinh Nien: Filme, Tran Thoai Ha: Tee, Lai Kim Dung: Reis, Vuong Dao Nghia: Zahnpasta, Ly Sen: Eisen und Stahl, Luu Kiet: Landmaschinen, etc…

3. Họ Do Người Việt Tự Đặt  : Về họ do người Việt tự đặt, sử liệu cho thấy một số họ do vua Việt Nam đặt cho các dân tộc thiểu số trong thời gian gần đây. Giáo sư Hà Mai Phương dẫn sử liệu trong Đại Nam thực lục cho biết, thời Hậu Lê, các quan dân tộc trên 9 châu thuộc vùng Thanh Hóa và Nghệ An đều nhận họ của vua. Tuy nhiên, lịch sử không cho biết những họ này là gì.

Theo Đại Nam Thực Lục, năm 1826, vua Minh Mạng cho phép các quan cai trị Campuchia đặt lại địa danh và đổi tên của người dân Campuchia sang chữ Hán để dễ đọc.

Năm 1827, theo Đại Nam nhất thống chí tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị, vua Minh Mạng ban cho các dân tộc thiểu số ở các vùng này các họ: Cóc, Đông, Hương, Khéo hoặc Khẩu, Lãnh, Lâm, Sơn, Thạch, Satz.

Theo Đại Nam Thực Lục, năm 1832, vua Minh Mạng đã ban các họ sau cho những người trấn thủ đất Trấn Ninh, Nghệ An: Cáo, Cát, Cầm, Cấn, Cố, Chuyên, Du, Đa, Định, Đôn, Hào, Hào. , Hàm, Kiên, Kiều, Khả, Khảm, Lãng, Lương, Mỹ, Nhâm, Sầm, Sơn, Tạo, Thanh, Thiết, Trắc, Trí, Trinh, Triển, Uất.

Tù nhân Trần Mẫn, Thanh Hóa có các họ sau: Bảo, Cam, Cam, Cát, Đạo, Huy.

Năm 1834, các dân tộc Mường và Lào ở Thanh Hóa được vua Minh Mạng ban các họ Hào, Lâm, Linh, Phan, Sơn, Thạch, Văn.

Năm 1835, vua Minh Mệnh cho phép các quan dùng tên các trấn, làng để đặt tên dân ở các huyện Kiên Giang, Hà Châu thuộc tỉnh Hà Tiên để tiện cho việc thu thuế và kiểm soát an ninh.

Theo Quốc Triều Chánh Biên Toạ Tắc, năm 1837, vua Minh Mệnh đã ban các họ sau đây cho các dân tộc thiểu số ở Tây Ninh: Dương, Dao, Hanh, Lý, Mã, Ngưu và Tường.

Theo Đại Nam Nhất Thống Chí tỉnh Biên Hòa, năm 1838 vua Minh Mệnh đã ban các họ sau cho thổ dân huyện Long Khánh: Dương, Đào, Lâm, Lý, Mai, Tùng.

Năm 1839, thổ dân các huyện Phước Bình và Phước Long được mang các họ: Hồng, Lâm, Mã, Ngưu, Nhân, Sơn.

Năm 1841, vua Thiệu Trị ban họ Cửu cho quốc trưởng Mã Thái người Hòa Xá ở Phú Yên.

Đối với người Chăm, năm 1837, vua Minh Mệnh ra chiếu chỉ buộc người Chăm phải ăn mặc như người Việt và đổi họ thành Lưu, Hán, Đăng, Nguyễn, Trương, Châu, Phụ, Đường.

Ngoài ra, họ cũ còn phát sinh ra họ mới, chẳng hạn như họ của tổ tiên triều Nguyễn là Nguyễn Bặc (924-979) ở Thanh Hóa sinh ra họ mới là Nguyễn Hữu, tức Phúc,

Ton Nu, Cong Tang Ton Nu usw.

Ngoài ra còn có một số họ khác được các thủ lĩnh bộ lạc đặt cho những người trong bộ lạc, và những họ này thường xuất phát từ chữ Nôm hoặc các ngôn ngữ dân tộc chỉ phổ biến ở một khu vực cụ thể. Chẳng hạn như họ Đèo, Lô, Tèo, Vũ là những gia đình dân tộc thiểu số ở Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn, hay họ H’mok, Dham Nie ở Thượng Tây Nguyên.

Tóm lại, họ Việt Nam xuất hiện từ đầu công nguyên và có nguồn gốc từ họ và tên của người Trung Quốc do chính người Việt đặt ra. Tuy nhiên, một câu hỏi được đặt ra là liệu người Việt Nam có họ giống Trung Quốc do họ bị ép buộc hay bắt chước?

In Gia phả
4. Việt Nam Bắt chước Tên đầu hoặc Bắt buộc Lấy Tên:    Về vấn đề này, các học giả chia thành hai phe. Ông Nguyễn Bạt Tụy cho rằng người Việt Nam bắt chước người Trung Quốc. Ông Nguyễn Đổng Chi thuộc Ủy ban Nghiên cứu Khoa học Xã hội cũng đồng tình với lập trường trên. Ông đã viết:

Câu nói con người sinh ra phải biết tổ tiên, họ của mình, trong Hậu Hán thư cho thấy người Việt có thể đã có chìa khóa phát triển phụ hệ Trước đó, tổ tiên ta cũng như đồng bào thượng lưu ngày nay chỉ đặt tên cho mình. đề cập đến các cá nhân, nhưng không có tên mà họ có thể đề cập hoặc hành động giống như người Trung Quốc.

Ngược lại, ông Bình Nguyên Lộc cho rằng người Việt Nam có khả năng bị cưỡng chế. Anh ấy viết: Họ của chúng tôi bây giờ hoàn toàn là người Trung Quốc, nhưng chúng tôi đã tự nguyện tuân theo phong tục của họ để kết hôn với họ, hay chúng tôi bị buộc phải làm như vậy? Có lẽ bị ép buộc, nhưng có lẽ không phải vì nỗ lực đồng hóa, mà là để tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc điều tra dân số mà Mã Nguyên tiến hành sau khi giết hai chị em nhà họ Tống.

Cùng quan điểm như trên, GS Vũ Hiệp viết: Trong chính sách đồng hóa dân tộc ta, những kẻ thống trị ác độc như Tích Quang, Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp đã khai hóa một cách có hệ thống những người gốc Giao Chỉ. Họ bắt dân ta thời đó phải theo nếp sống, phong tục tập quán của người Hoa, học chữ Nho … Tất nhiên, họ cũng bắt dân ta phải dùng tên dân tộc theo kiểu Hán Tộc.

Còn GS Nguyễn Ngọc Huy thì viết: Về phong tục, người Việt đã phát triển từ mẫu hệ sang phụ hệ. Ngoài nghi lễ cưới hỏi kiểu Trung Hoa, người Việt Nam có họ và theo họ cha. Hầu hết các họ mà người Việt vẫn dùng ngày nay là họ của người Hoa nhưng đọc là Trại theo âm Hán Việt.

Kết luận của các tác giả trên dường như không dựa trên dữ liệu lịch sử, vì vậy vấn đề bắt chước hay cưỡng bức cần được điều tra thêm. Hơn nữa, tất cả các tác giả đều đồng ý rằng họ của Việt Nam giống với họ của Trung Quốc, chỉ khác là nó được phát âm theo âm Hán Việt. Nhận xét này được cho là quá chung chung và cần bổ sung vì một số họ xuất phát từ chữ Nôm, một ngôn ngữ thuần Việt mà người Trung Quốc không có. Hơn nữa, một số họ mới được đặt ra dưới thời Minh Mạng cũng có nguồn gốc Hán Việt, nhưng đó không phải là lý do tại sao kết luận rằng họ là người Trung Quốc.


Video Họ đầu tiên ở nước ta là gì

Cảm ơn các bạn đã theo dõi bài viết Họ đầu tiên ở nước ta là gì! Kỵ Sĩ Rồng hi vọng đã mang đến thông tin hữu ích cho bạn. Xem thêm các bài viết cùng danh mục Hỏi đáp. Mọi ý kiến thắc mắc hãy comment bên dưới, chúng tôi sẽ phản hồi sớm nhất có thể. Nếu thấy hay hãy chia sẻ bài viết này cho nhiều người được biết. Kỵ Sĩ Rồng chúc bạn ngày vui vẻ

Related Posts