Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là gì

Cách tải game android cho ios? Bạn tìm kiếm thông tin về . Kỵ Sĩ Rồng tổng hợp thông tin từ nhiều nguồn. Hi vọng sẽ hữu ích với bạn. Nào chúng ta bắt đầu thôi

Các nguyên tắc của luật pháp là gì? Phân tích các quan điểm về nhà nước pháp quyền

“Nhà nước pháp quyền”, “nhà nước hợp hiến xã hội chủ nghĩa” … là những thuật ngữ thường có thể nghe thấy đâu đó trên các phương tiện thông tin đại chúng. Vậy cách hiểu đúng về nhà nước pháp quyền là gì? Phân tích chi tiết bài viết:

1. Lịch sử hình thành và phát triển của nhà nước pháp quyền?

Trong lịch sử tư tưởng chính trị và pháp luật của nhân loại, nhà nước pháp quyền đã được hình thành từ thời cổ đại. Ngay từ thời xa xưa, khi người dân bị nhà cầm quyền cai trị một cách độc đoán, tùy tiện thì cũng là lúc trong xã hội xuất hiện tư tưởng về một nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở pháp luật. Để cai trị và điều hành xã hội theo pháp luật, cả vua, quan và nhân dân đều phải tôn trọng và tuân theo pháp luật… Sau hàng nghìn năm trong “đêm trường trung đại”, thời đại đã qua. Trong thời kỳ Phục hưng, tư tưởng pháp quyền được tiếp tục phát triển và hoàn thiện. Trong thời kỳ này, tư tưởng đề cao vai trò của pháp luật đối với đời sống của nhà nước và xã hội làluôn gắn liền với tư tưởng dân chủ khẳng định chủ quyền của nhân dân, chống lại sự chuyên quyền, độc đoán của nhà cầm quyền. Bảo đảm bảo vệ quyền con người … Nhà nước pháp quyền một mặt củng cố vai trò của pháp luật, nhưng nhấn mạnh đặc trưng của pháp luật là dân chủ, tiến bộ, phản ánh ý chí, nguyện vọng của nhân dân. khác. của người dân, luật pháp phải phù hợp với quyền tự nhiên của người dân.phản ánh ý chí và mong muốn của nhân dân. của người dân, luật pháp phải phù hợp với quyền tự nhiên của người dân.phản ánh ý chí và mong muốn của nhân dân. của người dân, luật pháp phải phù hợp với quyền tự nhiên của người dân.

Từ cuối nền dân chủ thứ 19 trên thế giới, một hình mẫu cho việc thiết kế và xây dựng nhà nước của các quốc gia đương đại. Có thể nói   “sự phát triển của nền văn minh nhân loại cho đến nay phần lớn được quyết định bởi sự phát triển của xã hội dân sự và nhà nước pháp quyền”.

Vì vậy, trong thời hiện đại, vấn đề nhà nước pháp quyền đã được nhiều nước trên thế giới nghiên cứu kỹ lưỡng nhằm làm cơ sở lý luận vững chắc cho việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước theo xu hướng trở thành nhà nước pháp quyền. . Nhà nước pháp quyền, vấn đề, nhà nước pháp quyền là gì, đặc điểm của nó là gì, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của nó … Đây là những câu hỏi có thể trả lời theo nhiều cách khác nhau. Nhà nước pháp quyền là một hiện tượng phức tạp, nhiều lớp, có thể được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau.

Nhiều học giả tin rằng hai thuật ngữ có nghĩa tương tự được sử dụng trong ngôn ngữ hiện đại, đó là   “nhà nước hợp hiến”   (L’état de droit) và   “nhà nước hợp hiến”.(Quốc gia lập hiến), tùy thuộc vào ngôn ngữ của quốc gia tương ứng. Tuy nhiên, trên thực tế, hai thuật ngữ này vừa có điểm giống vừa có điểm khác biệt. Sự thống nhất giữa “pháp quyền” và “nhà nước pháp quyền” đều neo ở các nguyên tắc cơ bản: tính phổ biến của quy phạm pháp luật, pháp luật phải công khai, quy phạm pháp luật phải rõ ràng và không có hiệu lực hồi tố. Sự khác biệt là “pháp quyền” nhấn mạnh sự tham gia của người dân vào một quá trình chính trị có trật tự mà không đề cập rõ ràng đến nhà nước, trong khi thuật ngữ “pháp quyền” nhấn mạnh đến nhà nước và tập trung vào các đặc điểm cụ thể của một nhà nước nhất định.  2. Khái niệm nhà nước pháp quyền?

Nhiều ý kiến ​​về nhà nước pháp quyền có thể được nhìn thấy trong nghiên cứu của các học giả ở các nước trên thế giới. Ví dụ:   “Nhà nước hợp hiến là nhà nước gắn liền với pháp luật và được hợp thức hóa bằng pháp luật”? “Nhà nước pháp quyền là cả nước có trách nhiệm thực thi công lý, tuân theo pháp luật, đặc biệt coi trọng các nguyên tắc và quyền con người”?

Ở Việt Nam cũng vậy, quan niệm về nhà nước pháp quyền còn khá khác biệt. Ví dụ, một tác giả tin rằng nhà nước pháp quyền là “một nhà nước công nhận tất cả các luật và văn bản dưới luật   do cơ quan lập pháp và chính phủ (trong phạm vi quyền hạn của họ) thiết lập. nhà nước ở trong luật chứ không phải nhà nước ở ngoài hay trên luật ”?

Một tác giả khác cho rằng:   “Nhà nước pháp quyền là một tổ chức công cộng trong hệ thống chính trị của xã hội dân sự, hoạt động dựa trên những tư tưởng pháp luật tiến bộ như công lý, nhân đạo, công lý và nhân văn, dân chủ và pháp quyền, xung quanh cái chung các giá trị xã hội được thừa nhận của nền văn minh thế giới – tôn trọng và bảo vệ các quyền và tự do của con người, pháp quyền trên thế giới – phải thực sự bảo đảm. Lĩnh vực hoạt động của   nhà nước, tam quyền phân lập (lập pháp, hành pháp, tư pháp) và chủ quyền phổ biến ”…

Từ những thuật ngữ trên, cũng như từ biểu hiện của nhà nước pháp quyền trong thực tiễn, có thể xác định rằng nhà nước pháp quyền trước hết phải là một nhà nước theo nghĩa chân thực nhất của từ này – một tổ chức quyền lực chính trị đặc biệt, một tổ chức công. Thuộc về xã hội. Tuy nhiên, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước tương ứng với một hình thái kinh tế – xã hội. Nhà nước pháp quyền là nhà nước tổ chức và hoạt động rất khác so với nhà nước độc đoán, chuyên quyền, thống trị. Nhà nước pháp quyền được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, là hệ thống pháp luật dân chủ, phản ánh công lý và phù hợp với quyền con người. Nhà nước pháp quyền được tổ chức và vận hành trên cơ sở chủ quyền phổ biến, có cơ chế phân bổ,Kiểm soát quyền lực nhà nước nhằm bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền tự do cá nhân. Nhà nước pháp quyền là công cụ phục vụ xã hội, phục vụ con người, mang lại lợi ích cho công dân, bảo vệ quyền tự do cá nhân và công bằng xã hội. Cả nhà nước và các chủ thể xã hội khác luôn tôn trọng và thực hiện nghiêm túc pháp luật.

Tóm lại:   Nhà nước pháp quyền là nhà nước bảo vệ vai trò của pháp luật đối với nhà nước và đời sống xã hội, tổ chức và hoạt động trên cơ sở hệ thống pháp luật từng bước, công bằng và chính đáng. Nguyên tắc chủ quyền của con người, phân chia và kiểm soát quyền lực nhà nước nhằm bảo đảm quyền con người, tự do cá nhân, công bằng và bình đẳng trong xã hội.

Luật Minh Khuê (sưu tầm và biên tập) Gọi luật sư Đặt câu hỏi Báo cáo vụ việc Đặt lịch   hẹn Chủ đề liên quan

  • Làm thế nào để bạn xây dựng một nhà nước hợp hiến ở Việt Nam hiện nay?
  • Năm ngân sách là gì? Pháp luật về niên độ ngân sách
  • Chế độ quân chủ là gì Nguồn gốc, nội dung của chế độ quân chủ
  • Chế độ kinh tế là gì? Quy định về chế độ kinh tế
  • Quỹ dự trữ quốc gia là gì? Quy định về quỹ dự trữ quốc gia?
  • Khoản vay của chính phủ là gì? Đặc điểm và nội dung của cho vay nhà nước?
  • Tìm hiểu thêm về triết lý pháp lý của Hêghen.
  • Dân chủ đại diện là gì? Dân chủ đại diện trong xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay
  • Mối quan hệ giữa nhà nước bảo hiến xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và nền hành chính nhà nước trong giai đoạn hiện nay
  • Lý thuyết về cầu tiền của Milton Friedman

Bạn có thấy nội dung này thực sự hữu ích?

Có không

Bạn thấy nội dung này sai ở đâu?

Gửi email để nhận thông báo về các thay đổi (nếu có) bình luận

Cảm ơn cho đánh giá của bạn!

Like Fanpage Luật Minh Khuê để cập nhật tin tức mới mỗi ngày

Các bài cùng chủ đề

Quy định về nội dung tạm ứng và cho vay từ ngân sách nhà nước của ngân sách nhà nước

Quy định về nội dung tạm ứng và cho vay từ ngân sách nhà nước của ngân sách nhà nước

Luật sư có trò chơi gì trong hoạt động tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam?

Luật sư có vai trò như thế nào trong hoạt động tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam?

Hợp đồng ủy nhiệm thu thuế mẫu và các tài khoản khác thuộc ngân sách nhà nước

Hợp đồng ủy nhiệm thu thuế mẫu và các tài khoản khác thuộc ngân sách nhà nước

Hướng dẫn của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc xây dựng dự án ngân sách nhà nước năm 2021

Hướng dẫn của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc xây dựng dự án ngân sách nhà nước năm 2021

Nguyên tắc công khai trong hoạt động ngân sách Nhà nước ? Ý nghĩa của việc công khai ngân sách nhà nước ?

Công khai nguyên tắc trong ngân sách hoạt động Nhà nước? Ý nghĩa của công việc khai ngân sách nhà nước?

Quy trình đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học công nghệ không sử dụng ngân sách nhà nước

Quy trình đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học công nghệ không sử dụng ngân sách nhà nước

Quy trình thẩm định kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học công nghệ không sử dụng ngân sách nhà nước

Quy trình thẩm định kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học công nghệ không sử dụng ngân sách nhà nước

Ngân sách nhà nước và dự toán ngân sách nhà nước vào năm 2022

Ngân sách nhà nước và dự toán ngân sách nhà nước vào năm 2022

Quy định của pháp luật về hồ sơ, cách thức thực hiện, điều kiện cam kết chi và thời hạn gửi, chấp thuận cam kết chi ngân sách nhà nước

Quy định của pháp luật về hồ sơ, cách thức thực hiện, điều kiện cam kết chi và thời hạn gửi, chấp thuận cam kết chi ngân sách nhà nước

Quy định về quản lý, thanh toán vốn cho dự án đầu tư công tại nước ngoài sử dụng vốn ngân sách nhà nước

Quy định về quản lý, thanh toán vốn cho dự án đầu tư công tại nước ngoài sử dụng vốn ngân sách nhà nước

Mối quan hệ giữa chủ nghĩa Hiến pháp và lý thuyết về Nhà nước pháp quyền

Mối quan hệ giữa chủ nghĩa Hiến pháp và lý thuyết về Nhà nước pháp quyền

Quy định của pháp luật về nội dung tạm ứng, vay ngân quỹ nhà nước của ngân sách nhà nước

Quy định của pháp luật về nội dung tạm ứng, vay ngân quỹ nhà nước của ngân sách nhà nước

Luật sư có vai trò gì trong hoạt động tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam?

Luật sư có vai trò gì trong hoạt động tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam?

Mẫu hợp đồng ủy nhiệm thu thuế và các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước

Mẫu hợp đồng ủy nhiệm thu thuế và các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước

Hướng dẫn của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc xây dựng dự toán ngân sách nhà nước năm 2021

Hướng dẫn của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc xây dựng dự toán ngân sách nhà nước năm 2021

Nguyên tắc công khai trong hoạt động ngân sách Nhà nước ? Ý nghĩa của việc công khai ngân sách nhà nước ?

Nguyên tắc công khai trong hoạt động ngân sách Nhà nước ? Ý nghĩa của việc công khai ngân sách nhà nước ?

Quy trình đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học công nghệ không sử dụng ngân sách nhà nước

Quy trình đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học công nghệ không sử dụng ngân sách nhà nước

Quy trình thẩm định kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học công nghệ không sử dụng ngân sách nhà nước

Quy trình thẩm định kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học công nghệ không sử dụng ngân sách nhà nước

Ngân sách nhà nước và dự toán ngân sách nhà nước vào năm 2022

Ngân sách nhà nước và dự toán ngân sách nhà nước vào năm 2022

prevnextNgân Sách Nhà Nước

  • Năm ngân sách là gì ? Quy định pháp luật về năm ngân sách
  • Quỹ dự trữ quốc gia là gì ? Quy định pháp luật về quỹ dự trữ quốc gia ?
  • Tín dụng nhà nước là gì ? Đặc điểm, nội dung của tín dụng nhà nước ?
  • Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước là gì ? Quy định về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước
  • Chấp hành ngân sách nhà nước là gì ? Trình tự, thủ tục chấp hành ngân sách nhà nước?
  • Bội chi ngân sách nhà nước là gì ? Khái niệm về bội chi ngân sách nhà nước ?
  • Chi thường xuyên là gì ? Phạm vi, nguyên tắc của việc chi thường xuyên
  • Nhà nước là gì ? Dấu hiệu đặc trưng của nhà nước là gì ?
  • Bản chất của nhà nước Cộng hòa XHCN Việt nam là gì ?

Kinh Tế Nhà Nước

  • Chế độ kinh tế là gì ? Quy định về chế độ kinh tế
  • Lý thuyết nhu cầu tiền tệ của Milton Friedman
  • Lạm phát và thất nghiệp: Phản ứng của phái Duy tiền
  • Chính sách kinh tế từ quan điểm Duy tiền
  • Phân tích các nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ?
  • Phân tích chức năng của nhà nước Việt Nam hiện nay
  • Nghị quyết 31/2012/QH13 về Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2013
  • Chính sách kinh tế là gì ? Nội dung chính sách kinh tế trong Hiến Pháp ?
  • Cải cách bộ máy nhà nước là gì ? Khái niệm về bộ máy nhà nước ?

Pháp Quyền

  • Tìm hiểu về Triết học pháp quyền của Hegen
  • Dân chủ đại diện là gì ? Chế độ dân chủ đại diện trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền của Việt Nam hiện nay
  • Mối quan hệ giữa nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nền hành chính nhà nước trong giai đoạn hiện nay
  • Đánh giá tính chất pháp quyền của WTO : Sự xuất hiện xu hướng tự do hóa làm luật tư pháp
  • Quyền là gì ? Khái niệm quyền được hiểu như thế nào ?
  • Các đặc trưng nhà nước pháp quyền ? Giá trị của nhà nước pháp quyền ?
  • Có được xây nhà ở trên đất vườn thuộc khu đô thị ?
  • Nguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo luật Hiến Pháp
  • Nhà nước pháp quyền là gì ? Phân tích các quan điểm về nhà nước pháp quyền

Xem nhiều

  • Mẫu hợp đồng cho thuê nhà cập nhật mới nhất năm 2021
  • Mẫu đơn xin ly hôn thuận tình mới nhất của tòa án năm 2021
  • Mẫu biên bản cam kết (Giấy cam kết) mới nhất năm 2021
  • Mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất mới nhất năm 2021
  • Cách tính tiền bảo hiểm xã hội một lần theo quy định mới 2021 ?
  • Mẫu Biên bản thanh lý hợp đồng cập nhật mới nhất năm 2021
  • Mẫu đơn đề nghị mới nhất 2021 và cách viết đơn đề nghị, kiến nghị
  • Mẫu giấy ủy quyền cá nhân, ủy quyền doanh nghiệp mới 2021 ? Hướng dẫn cách viết giấy ủy quyền
  • Mẫu công văn đề nghị thanh toán công nợ mới năm 2021 ? Cách viết công văn yêu cầu trả nợ, tiền ?

GS.TS.PHAN TRUNG LÝ

Nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội,

NGUYỄN TRUNG THÀNH

Phó Viện trưởng Viện Khoa học Môi trường và Xã hội.Tóm tắt: Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng đã nhấn mạnh: “Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị…”[1]. Vì vậy, để xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền XHCN, trước hết cần xây dựng bộ máy hành chính nhà nước liêm chính, hiệu lực, hiệu quả. Mục tiêu đó gắn liền với việc thực hiện công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước (CQHCNN). Trong phạm vi bài viết này, các tác giả tập trung phân tích những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; vị trí, vai trò và những vấn đề đặt ra đối với việc thực hiện công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình nhằm đáp ứng yêu cầu của xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.Từ khoá: Công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình.Abstract: The Resolution of the XII Congress of the Party has emphasized: “Continuation of development and improvement of the socialist rule-of-law socialist state led by the Communist Party is the core task to reform the political system…”. Therefore, in order to successfully develop a rule-of-law socialist state, first of all, it is necessary to establish an effective and effective state administrative apparatus with high integrity. That goal is associated with the implementation of publicity, transparency and accountability of state administrative agencies (the State’s administrative agencies). Within the scope of this article, the authors focus on analysis of the basic characteristics of the Socialist State of Vietnam; positions, roles and issues for the implementation of publication, transparency and accountability to meet the requirements of development of a socialist rule of law in VietnamKeywords: Publication, transparency, accountability.1. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt NamỞ Việt Nam, khái niệm “Nhà nước pháp quyền XHCN” lần đầu tiên được nêu ra tại Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII (ngày 29/11/1991) và tiếp tục được khẳng định tại Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảng năm 1994 cũng như trong các văn kiện khác của Đảng. Tiếp theo là tại các Đại hội lần thứ X và XI của Đảng đã có bước phát triển về chất trong nhận thức về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta.Thể chế hoá quan điểm xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của Đảng, Điều 2 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “1. Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; 2. Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam do Nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức; 3. Quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.Xuất phát từ bản chất Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam cần được xây dựng trên cơ sở đáp ứng các nguyên tắc sau: (1) Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; (2) Thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, mọi chủ thể trong xã hội đều phải tôn trọng và nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật mà Hiến pháp là đạo luật tối cao, bộ luật gốc mang tính nền tảng; (3) Khẳng định và bảo vệ quyền con người, quyền công dân, tôn trọng sự bình đẳng của mọi cá nhân trong thụ hưởng và phát triển quyền, không có sự phân biệt đối xử, trước tiên và chủ yếu trong việc tham gia vào công tác quản lý nhà nước và xã hội; (4) Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; (5) Bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân. Quyền và nghĩa vụ của công dân được pháp luật thừa nhận, tôn trọng và bảo đảm thực hiện, thúc đẩy trong khuôn khổ luật pháp.Bản chất của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước đặt dưới sự điều chỉnh tối cao của pháp luật. Do đó, pháp luật trong nhà nước pháp quyền phải bảo đảm tính công khai, minh bạch, khả thi và hiệu quả, bảo đảm nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật và bảo vệ quyền con người.2. Vị trí, vai trò của công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt NamTrong hoạt động của bộ máy nhà nước, “công khai” nghĩa là mọi hoạt động của Nhà nước phải được công bố hoặc phổ biến, truyền tải trên các phương tiện thông tin đại chúng, làm cho mọi người dân có thể tiếp cận được các quyết định của Nhà nước một cách dễ dàng. “Minh bạch” nghĩa là không những phải công khai mà còn phải trong sáng, không khuất tất, không rắc rối, không gây khó khăn cho công dân trong tiếp cận thông tin. Minh bạch luôn phải gắn với trách nhiệm, đòi hỏi Chính phủ và đội ngũ cán bộ, công chức phải công khai quá trình thực hiện công việc cho các bên quan tâm. Ở góc độ này, minh bạch có mối quan hệ chặt chẽ với trách nhiệm, vì có trách nhiệm mới có xu hướng công khai và đảm bảo các điều kiện cho công khai. 

Xem thêm:  Kỹ sư kinh tế xây dựng tiếng anh là gì

Trách nhiệm giải trình được coi là một trong những yếu tố quan trọng của một nền chính trị dân chủ, giúp thiết lập và duy trì mối quan hệ giữa Nhà nước và người dân. Trong mô hình quản trị nhà nước, giải trình giúp người dân biết được “Nhà nước đang làm gì và đang làm như thế nào?”. Giải trình là một phần của quản trị nhà nước đồng thời là yếu tố giúp tăng tính hợp pháp cũng như độ tin cậy của Nhà nước trong mắt người dân. Do vậy, trách nhiệm giải trình được hiểu là nghĩa vụ cung cấp thông tin một cách đầy đủ, rõ ràng về những dữ liệu do mình tạo ra và phải chịu trách nhiệm về hoạt động đó. Với ý nghĩa đó, trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước bao gồm 2 nội dung cơ bản đó là nghĩa vụ cung cấp, lý giải thông tin và phải gắn với trách nhiệm pháp lý của tổ chức, cá nhân giải trình.Nhà nước pháp quyền XHCN là một mô hình nhà nước mà Việt Nam đang hướng tới, trong đó kết hợp giữa một số yếu tố cơ bản của “xã hội pháp quyền” với đặc thù của hệ thống chính trị nước ra, đó là hệ thống chính trị nhất nguyên, do một đảng chính trị là Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Tính nhất nguyên còn thể hiện ở chỗ, mặc dù có tiếp thu những yếu tố hợp lý của các học thuyết chính trị, pháp lý khác, song nền tảng tư tưởng về tổ chức, vận hành của bộ máy nhà nước và quản lý xã hội là chủ nghĩa Mác Lênin. Vì vậy, việc thực hiện công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc xây dựng và vận hành của một “xã hội pháp quyền” theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp.“Xã hội pháp quyền” theo nghĩa hẹp thể hiện ở việc hạn chế sự tùy tiện trong việc sử dụng quyền lực nhà nước, mà điều này đòi hỏi phải “ràng buộc quyền lực vào các đạo luật được xây dựng rõ ràng và chặt chẽ” [2]. Đây chính là một đòi hỏi về sự công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong thực thi pháp luật, để có thể “buộc các quan chức chính quyền và công dân phải hành xử phù hợp với pháp luật” [3].“Xã hội pháp quyền” theo nghĩa rộng được hiểu là “một hệ thống/cơ chế mà trong đó không có chủ đề nào, ngay cả nhà nước, đứng trên pháp luật; nơi mà pháp luật bảo vệ các quyền cơ bản và tất cả mọi người đều có thể tiếp cận với công lý” [4]. Hệ thông/cơ chế đó không thể xây dựng và vận hành được trong bối cảnh thiếu công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình. Để buộc mọi cá nhân, tổ chức, thiết chế, cả công và tư, đều phải tuân thủ pháp luật thì pháp luật phải được xây dựng một cách minh bạch, được công bố công khai, được áp dụng bình đẳng. Nguyên tắc thượng tôn pháp luật cũng đòi hỏi các chủ thể có liên quan chịu trách nhiệm trước pháp luật và trách nhiệm giải trình trước các chủ thể khác, từ đó mới có thể tạo lập sự tin cậy, tính công bằng trong áp dụng pháp luật, ngăn ngừa sự tùy tiện trong việc xây dựng và thực thi pháp luật.Mặc dù không hoàn toàn đồng nhất với “xã hội pháp quyền”, nhưng do kết hợp nhiều yếu tố của “xã hội pháp quyền” nên công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình cũng có vị trí, vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng và vận hành Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Cụ thể, vị trí, vai trò của công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình thể hiện rõ nhất qua việc những vấn đề này là cơ sở để hiện thực hoá hai đặc trưng cơ bản sau đây của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam:Đặc trưng thứ nhất, Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, thể hiện quyền làm chủ của Nhân dân. Đặc trưng này có nghĩa là Nhà nước phải công khai, minh bạch và có trách nhiệm giải trình trước Nhân dân; nó cũng có nghĩa Nhân dân-với tư cách là chủ thể lập nên Nhà nước-có quyền yêu cầu Nhà nước phải công khai, minh bạch cũng như phải báo cáo, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về tổ chức và hoạt động của mình.Đặc trưng thứ hai, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện quyền lực nhà nước của Nhân dân thông qua các tổ chức xã hội. Trong đặc trưng này, việc các cơ quan nhà nước thực hiện công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình vừa là một yêu cầu, vừa là một điều kiện để Nhân dân có thể thực hiện quyền kiểm tra, giám sát của mình với hoạt động của các cơ quan.3. Yêu cầu đặt ra đối với việc thực hiện công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình đáp ứng yêu cầu của xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt NamThứ nhất, yêu cầu gắn vấn đề công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình trong tổ chức, hoạt động của các CQHCNN với việc kiểm soát quyền lực nhà nước.Thực hiện công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình có thể kiểm soát được việc sử dụng quyền lực nhà nước một cách hiệu quả nhất, vì thế phải xem công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình như là một yếu tố cấu thành cốt lõi trong mọi chiến lược, kế hoạch, chính sách, pháp luật về kiểm soát quyền lực của bộ máy CQHCNN. Thứ hai,yêu cầu về xây dựng,áp dụng các quy tắc ứng xử, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức hành chính.Quy tắc ứng xử, đạo đức nghề nghiệp cần đưa ra những yêu cầu về thái độ, hành vi của cán bộ, công chức, viên chức hành chính khi thi hành công vụ. Đồng thời, các hình thức xử lý trách nhiệm cũng cần được quy định rõ và tương xứng nhằm đảm bảo thực hiện các quy tắc ứng xử, đạo đức nghề nghiệp trên thực tế. Mặt khác, cần giáo dục, nâng cao ý thức của cán bộ, công chức hành chính về thực hiện công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự liêm chính. Mỗi cán bộ, công chức hành chính phải coi công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình trong thi hành công vụ là trách nhiệm của mình. Tính liêm chính thể hiện phẩm chất của mỗi người và cần được coi như một yêu cầu bắt buộc đối với cán bộ, công chức – những người công bộc của nhân dân và phải gương mẫu trước Nhân dân.Thứ ba, yêu cầu bảo đảm sự tuân thủ pháp luật về công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình của các CQHCNN.Bảo đảm sự tuân thủ pháp luật về công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình đòi hỏi các cơ quan nhà nước phải thực hiện nghiêm túc các quy định có liên quan của của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, đặc biệt là quy định tại Điều 9, trong đó việc công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình phải bảo đảm chính xác, rõ ràng, đầy đủ, kịp thời theo trình tự, thủ tục của cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền và phù hợp với quy định của pháp luật. Tuân thủ pháp luật về công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình đòi hỏi áp dụng nhiều hình thức công khai khác nhau để các chủ thể có thể theo dõi, giám sát bộ máy nhà nước nói chung, các CQHCNN nói riêng. Bảo đảm sự tuân thủ pháp luật về công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình đòi hỏi phải nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong vấn đề này, thông qua việc chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân thuộc quyền quản lý thực hiện công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị người có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật đối với các trường hợp vi phạm pháp luật về công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình.Thứ tư,yêu cầu bảo đảm công khai, minh bạch trong xây dựng chính sách, pháp luật.Cần thực hiện nghiêm túc, hiệu quả việc tham vấn ý kiến người dân và doanh nghiệp về các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; kết hợp với việc minh bạch hóa quá trình chuẩn bị, soạn thảo, trình, ban hành các chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đồng thời, cần chú trọng rà soát, hệ thống hóa, công bố danh mục tài liệu bí mật nhà nước để ngăn ngừa, hạn chế việc lợi dụng bí mật nhà nước theo nguyên tắc: Công khai là tối đa, bí mật là tối thiểu.Quản lý nhà nước không tách rời thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quyết định đối với các chủ thể quản lý. Vì vậy, cần hoàn thiện khung khổ pháp luật để tăng cường công tác kiểm tra việc thực hiện công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình ở các cơ quan, tổ chức, đơn vị hành chính, cũng như các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động của các ngành, các cơ quan, đơn vị hành chính nhằm đảm bảo sự công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình.Thứ năm, yêu cầu về việc nâng cao trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện công khai, minh bạch. Các cơ quan nhà nước cần thực hiện nghiêm quy định về công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình trong tổ chức và hoạt động, có trách nhiệm giải trình rõ những ý kiến, kiến nghị của người dân về các vấn đề liên quan, đem lại hiệu quả cao nhất trong vấn đề này. Đồng thời, Nhà nước cần đẩy mạnh cải cách hành chính theo hướng đơn giản hóa để tạo thuận lợi nhất cho các tổ chức, cá nhân khi có yêu cầu giải quyết công việc; tạo điều kiện để người dân có thể giám sát và kiểm soát được hoạt động của cơ quan công quyền với phương châm lấy sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo của hiệu quả hành chính công.Thứ sáu, yêu cầu về nâng cao trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức hành chính trong thực thi công vụ.Việc này đòi hỏi phải tổ chức thực hiện tốt quy định của Luật Cán bộ, công chức; xây dựng và thực hiện chế độ, định mức công việc theo vị trí việc làm gắn với phân công rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cán bộ, công chức hành chính. Việc đảm bảo công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình trong đánh giá cán bộ, công chức hành chính và sự minh bạch trong quản trị nhà nước sẽ tạo thuận lợi cho người dân giám sát hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, trong đó, việc xây dựng, thực hiện định mức theo vị trí việc làm và trách nhiệm công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình là điều kiện để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính liêm chính, kỷ cương, trách nhiệm. Nhà nước cũng cần duy trì và nâng cao chất lượng quản lý hoạt động cơ quan hành chính theo tiêu chuẩn ISO hiện đã và đang áp dụng tại một số cơ quan, đơn vị. Ngoài ra, Nhà nước cần hoàn thiện và thực hiện các bộ quy tắc ứng xử, đạo đức công vụ để công dân có căn cứ giám sát hoạt động của cán bộ, công chức và cơ quan hành chính.Thứ bảy, yêu cầu đảm bảo sự giám sát của người dân và quyền giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội.Sự tham gia của Nhân dân vào quản trị nhà nước không chỉ làm cho các quyết định của Nhà nước được ban hành sát với thực tế, mà còn là cơ sở tăng cường sự minh bạch hoạt động của cơ quan nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức trong quá trình thực thi công vụ. Vì vậy, cần đảm bảo sự giám sát của người dân và quyền giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị – xã hội trên thực tế. Ngoài ra, cần phát huy vai trò của báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng trong việc cung cấp thông tin về tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung, các CQHCNN nói riêng, tạo diễn đàn tranh luận cho công chúng và tạo dư luận để thúc đẩy tiến trình, nội dung minh bạch hóa hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung, các CQHCNN nói riêng.Kết luận: Quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đang phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức. Yêu cầu đặt ra là Đảng phải luôn đảm bảo được tính chính đáng trong cầm quyền của mình thể hiện uy tín, sự tin tưởng, sự cuốn hút của Đảng đối với Nhân dân; tính hiệu quả trong lãnh đạo phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, đáp ứng yêu cầu, lợi ích của Nhân dân. Do đó, việc thực hiện công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của các CQHCNN là điều kiện tiên quyết, có ý nghĩa to lớn đối với công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam./.TÀI LIỆU THAM KHẢO1. Đảng Cộng sản Việt Nam,  Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 2016.2. Trần Ngọc Đường, Xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Tạp chí Tuyên giáo, ngày 2/1/2016, http://tuyengiao.vn/dua-nghi-quyet-cua-dang-vao-cuoc-song/xay-dung-va-hoan-thien-nha-nuoc-phap-quyen-xa-hoi-chu-nghia-83808.3. Lương Đình Hải, Xây dựng nhà nước pháp quyền và vấn đề dân chủ hoá xã hội ở nước ta hiện nay, Tạp chí Triết học, số 1 (176), tháng 1-2006.4. Trần Đại Quang, “ Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”,  www.nhandan.com.vn, 2017.5. Lưu Ngọc Tố Tâm, Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong xu thể hội nhập và phát triển, Tạp chí Tổ chức nhà nước, ngày đăng 12/04/2018.6. Rule of Law, tại https://www.lexico.com/en/definition/rule­­_of_law, truy cập ngày 25/10/2019.7. Brian Tamanaha (2007), “A Concise Guide to the Rule of Law”, tại http://ssrn.com/abstract=1012051, truy cập ngày 28/10/2019.8. The World Justice Project, tại: http://worldjusticeproject.org/about-us/overview/what-rule-law, truy cập ngày 25/10/2019. 

Xem thêm:  Tận cùng của nỗi nhớ em có biết là gì không

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam,  Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 2016. [2] Xem Rule of Law, tại https://www.lexico.com/en/definition/rule­­_of_law, truy cập ngày 25/10/2019.[3] Xem: Brian Tamanaha (2007), “A Concise Guide to the Rule of Law”, tr.3, tại http://ssrn.com/abstract=1012051, truy cập ngày 28/10/2019.[4] Xem: The World Justice Project, tại: http://worldjusticeproject.org/about-us/overview/what-rule-law, truy cập ngày 25/10/2019.

(Nguồn tin: Bài viết được đăng tải trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 15 (415), tháng 8/2020.)

Pháp quyền

Bách khoa toàn thư mở WikipediaBước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Nhà nước pháp quyền, với định nghĩa căn bản nhất là không có ai ở trên luật hay ngoài luật, mà mọi người phải tuân theo pháp luật. Một nguyên tắc bắt nguồn một cách logic từ ý tưởng cho rằng sự thật, cũng như luật, đều dựa trên những nguyên tắc căn bản có thể được phát hiện ra nhưng không thể được tạo ra theo ước muốn.

Có lẽ ứng dụng quan trọng nhất của pháp quyền là nguyên tắc rằng chính quyền chỉ thực thi quyền hành một cách hợp pháp theo các luật được soạn thảo ra và phát hành rộng rãi. Những luật đó được thông qua và thực thi theo đúng các bước được gọi là thủ tục pháp lý. Nguyên tắc này nhằm mục đích ngăn ngừa sự cai trị độc đoán dù cho đó là lãnh đạo chuyên quyền hay quần chúng lãnh đạo. Chính vì vậy, pháp quyền chống lại cả chế độ độc tài lẫn tình trạng vô chính phủ. Samuel Rutherford là một trong những tác giả đương đại đưa ra nguyên tắc đó những nền tảng lý thuyết trong cuốn Lex, Rex (1644), và sau này là Montesquieu trong cuốn Tinh thần Pháp luật xuất bản năm 1748.

Ở Châu Âu đại lục và tư tưởng pháp lý, pháp quyền thường, nhưng không phải luôn luôn, có liên hệ với Rechtsstaat (Nhà nước pháp quyền – Đức). Theo tư tưởng những người châu Mỹ Anglo, pháp quyền có quan hệ mật thiết với tam quyền phân lập, tính chắc chắn của pháp lý, nguyên tắc ước muốn hợp pháp và bình đẳng của mọi người trước pháp luật.

Khái niệm đó không có gì tranh cãi và nó được truyền rằng cụm từ ‘Pháp quyền’ đã trở thành vô nghĩa do sự lạm dụng của ý thức hệ và việc dùng quá mức chung chung.[1]Khái niệm[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà nước pháp quyền là vị thế pháp lý hay một hệ thống thể chế, nơi mỗi người đều phải phục tùng và tôn trọng luật pháp, từ cá nhân đơn lẻ cho tới cơ quan công quyền. Nhà nước pháp quyền như vậy liên hệ chặt chẽ với sự tôn trọng trật tự thứ bậc của các quy phạm, tôn trọng sự phân chia quyền lực và tôn trọng các quyền căn bản.

Nhà nước pháp quyền hình thức Nhà nước cộng hòa trong đó Nhà nước xây dựng nên pháp luật để quản lý xã hội và tự đặt mình dưới pháp luật. Mọi cơ quan Nhà nước đều phải được tổ chức và chỉ được phép hoạt động trong khuôn khổ quy định của pháp luật. Công dân tuân thủ, thi hành và sử dụng pháp luật. Quyền công dân được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Trong Nhà nước pháp quyền, ba ngành lập pháp, hành pháp và tư pháp độc lập với nhau. Vai trò của tòa án được đề cao. Điều kiện để có một Nhà nước pháp quyền là phải có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ, phù hợp và kịp thời. Điều này đòi hỏi công tác xây dựng pháp luật và pháp điển hóa không ngừng được thực hiện. Nhà nước pháp quyền dựa trên nguyên tắc dân chủ. Dân chủ là nền tảng để hoàn chỉnh pháp luật. Pháp luật là công cụ để bảo vệ quyền công dân.

Nhà nước pháp quyền là nhà nước nơi những người được ủy giao trọng trách thông qua phiếu bầu phải có trách nhiệm với những luật lệ mà họ ban ra. Lý thuyết phân quyền của Montesquieu vốn là nền tảng cho phần lớn Nhà nước phương Tây hiện đại khẳng định sự phân chia 3 quyền (lập pháp, hành pháp và tư pháp) và những giới hạn của 3 thứ quyền lực này. Trong mô hình dân chủ nghị viện, quyền lập pháp (Nghị viện) hạn chế quyền lực của phía hành pháp (Chính phủ) nên chính phủ không thể tự do hành động theo sở thích của mình và phải luôn có được sự hậu thuẫn của Nghị viện, nơi thể hiện ý chí và nguyện vọng của dân chúng. Cũng như thế, tư pháp cho phép tạo ra sự đối trọng đối với một số quyết định của chính phủ. Khi ba nhánh quyền lực được phân chia, mỗi nhánh đều muốn và tìm cho mình những quyền lực mới để mở rộng quyền lực cho mình. Khả năng của mỗi nhánh quyền lực mở rộng là khác nhau, như vậy sự mất cân bằng trong ba nhánh quyền lực sẽ bị lệch và đi tới thoái hóa pháp quyền. Làm sao để nhà nước pháp quyền được ổn định và duy trì sự cân bằng quyền lực giữa ba nhánh.

Như vậy, Nhà nước pháp quyền đối lập với các thể chế quân chủ tuyệt đối với thứ quyền lực thần thánh (Trong các chế độ trước, hoàng đế có quyền lực tối thượng, giống như Louis XIV đã từng nói: Ta chính là Nhà nước) và cũng đối lập với các thể chế độc tài, nơi chính quyền hành động bất chấp các quyền căn bản. Nhà nước pháp quyền cũng không đòi hỏi tất cả luật pháp đều phải là luật thành văn. Ví dụ như Hiến pháp Anh Quốc, dựa trên các tập quán là chủ yếu. Trong trường hợp như thế, những người được giao phó quyền lực phải tuân thủ luật pháp thep tập quán với sự tôn trọng các quyền căn bản tương tự như trong hệ thống luật thành văn.

Đối lập với nhà nước pháp quyền là nhà nước độc tài. Chính sách dứt khoát của các chính quyền đó là nhà nước chiếm hữu các quyền uy vốn có để hành động chỉ dựa trên ý thích của họ mà không bị kiểm tra hay hạn chế, tiêu biểu là sắc lệnh Night and Fog (Đêm tối và Sương mù) của Đức quốc xã. Các chính quyền độc tài thường thành lập lực lượng cảnh sát chìm thường chịu trách nhiệm đối với những luật được ban hành và có thể đàn áp các mối đe dọa với chính quyền nhà nước đó.Tổng quan[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ cổ đại[sửa | sửa mã nguồn]

Xixeron coi nhà nước là “một cộng đồng pháp lí”, “một cộng đồng được liên kết với nhau bằng sự nhất trí về pháp luật và quyền lợi chung” và ông đã đề xuất nguyên tắc “Sự phục tùng pháp luật là bắt buộc đối với tất cả mọi người”.

Xoocrat cho rằng: xã hội không thể vững mạnh và phồn vinh nếu pháp luật hiện hành không được tuân thủ, giá trị của công lí (pháp luật) chỉ có được trong sự tôn trọng pháp luật. Xã hội không thể tồn tại nếu đạo luật bất lực; không tuân thủ pháp luât thì không thể có nhà nước; công dân tuân thủ pháp luật thì nhà nước sẽ vững mạnh và phồn vinh.

Platon đã “nhìn thấy sự sụp đổ của nhà nước ở nơi mà không có pháp luật”. Theo quan điểm của Arixtot “pháp luật cần thống trị trên tất cả” và Hàn Phi Tử rất đề cao pháp trị.

Thời kỳ cách mạng tư sản[sửa | sửa mã nguồn]

John Locke cho rằng các đạo luật phải khách quan, phải thừa nhận các quyền và tự do cá nhân, phải bảo đảm tính công khai và phải thừa nhận sự phân chia quyền lực nhà nước để tránh sự lạm quyền và tuỳ tiện. Tự do của tôi, có nghĩa là tôi được hành động theo ý nguyện của mình, nếu hành động đó không bị pháp luật cấm.

Theo Montesquieu trong Thuyết phân chia quyền lực: Quyền lực nhà nước phải được phân chia thành 3 nhánh quyền: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Các nhánh quyền lực đã được phân chỉ được phép hoạt động trong phạm vi quy định của pháp luật. Giữa các quyền có sự giám sát, chế ước lẫn nhau.

I. Kant cho rằng, con người là chủ thể có ý thức về phẩm giá; con người trong hành vi của mình phải tuân thủ những đạo luật đạo đức; thực chất của tự do là cái bên trong của nhân cách con người; con người có khả năng ứng xử theo mục đích với những cách thức phù hợp. Tuy nhiên, không phải ai cũng sử dụng được tự do cá nhân một cách đúng mức, do đó dễ dẫn đến chuyên quyền. Pháp luật có hiệu lực bắt buộc các cá nhân phải phục tùng ý chí chung. Ông là người đầu tiên đưa ra khái niệm nhà nước pháp quyền, chủ quyền nhân dân chỉ thực hiện được thông qua sự phân chia quyền lực nhà nước: lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Thời kỳ hiện đại[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Pháp cũng như Đức, từ đầu thế kỉ 20 Nhà nước pháp quyền được quan niệm như một hình thức tổ chức quyền lực nhà nước đặc biệt, đặt dưới một chế độ luật pháp: trong nhà nước như thế, chính quyền chỉ được sử dụng những phương tiện được ban ra bởi trật tự pháp lý hiện hành, trong khi đó các cá nhân được sử dụng những phương tiện tư pháp để chống lại sự lạm quyền có thể có đến từ chính quyền.

Trung tâm của học thuyết nhà nước pháp quyền, là nguyên tắc theo đó các cơ quan nhà nước chỉ có thể hành động dựa trên một tư cách pháp lý: Mọi hành vi sử dụng sức mạnh vật chất đều phải được căn cứ dựa trên các quy phạm pháp luật. Việc thực thi quyền lực nhà nước được căn cứ bởi thẩm quyền (Kompetenz), được thiết lập và đóng khung bằng luật pháp. Cơ quan nhà nước có nghĩa vụ tuân thủ các quy phạm pháp luật. Nhà nước pháp quyền đòi hỏi trước tiên sự phục tùng pháp luật bởi chính quyền: Chính quyền phải tuân thủ các quy định vốn tạo nên nền tảng, khuôn khổ và phạm vi hoạt động của chính quyền đó, sự tuân thủ này phải được đảm bảo bởi sự tồn tại của một cơ chế kiểm soát tư pháp độc lập, tức là hoặc bởi các quan tòa bình thường (Justizstaat), hoặc bởi các tòa án đặc biệt (Sondergerichte). Nhưng lý thuyết này cũng đòi hỏi sự lệ thuộc của luật vào Hiến pháp. Nghị viện phải thực thi những quyền hạn của mình trong khuôn khổ đã được xác định bởi Hiến pháp, và hơn thế, sự can thiệp của một quan tòa, ở đây là một tòa hiến pháp là điều cần thiết để đảm bảo sự tôn trọng tính tối thượng của hiến pháp.

Lý thuyết của Hans Kelsen: Nhà nước pháp quyền và trật tự các quy phạm. Theo định nghĩa cổ xưa nhất thì Nhà nước pháp quyền là một hệ thống thể chế nơi quyền lực công phục tùng pháp luật. Vào đầu thế kỷ 20, nhà luật học người Áo Hans Kelsen đã định nghĩa lại khái niệm có nguồn gốc từ người Đức này (Rechtsstaat) như là một Nhà nước trong đó các quy phạm pháp luật được sắp xếp có trật tự sao cho quyền lực phải chịu sự giới hạn ». Trong mô hình này, mỗi quy phạm có được hiệu lực từ sự tuân thủ các quy phạm cao hơn. Sự tồn tại một trật tự có thứ bậc các quy phạm tạo nên một trong những đảm bảo quan trọng bậc nhất của Nhà nước pháp quyền. Trong khuôn mẫu đó, thẩm quyền của các cơ quan Nhà nước phải được xác định một cách rõ ràng và các quy phạm mà những cơ quan này tạo ra chỉ có hiệu lực với điều kiện tuân thủ toàn bộ các quy phạm có hiệu lực cao hơn. Cao nhất của hệ thống các quy phạm pháp luật là Hiến pháp.

Xem thêm:  Phòng công tác sinh viên tiếng anh là gì

Trong bài diễn văn của Lord Bingham of Cornhill vào ngày 16 tháng 11 năm 2006 nói về Sir David Williams Lecture ở Khoa Luật trường Đại học Cambridge[2], ông ta đã đưa ra tám yêu cầu về pháp quyền:

  • Luật phải dễ được tiếp cận cũng như dễ hiểu đối với người dân, rõ ràng và có thể dự báo
  • vấn đề quyền pháp lý và trách nhiệm pháp lý phải được giải quyết bằng luật và không được tùy tiện
  • luật của các địa phương nên áp dụng đồng bộ
  • luật phải bảo vệ những quyền căn bản của con người
  • các phương tiện truyền thông phải được cung cấp để giải quyết với chi phí phải chăng và không bị trì hoãn quá đáng
  • các bộ trưởng và công chức ở các cấp phải thực thi quyền lực của mình một cách hợp lý và trung thực, cho mục đích cụ thể được giao cho và không được vượt quá quyền hạn của mình.
  • Thủ tục xét xử phải công bằng
  • Nhà nước thực thi bổn phận của mình phải tuân thủ luật quốc tế.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Sự bình đẳng trước pháp luật[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Bình đẳng trước pháp luật

Chính Nhà nước cũng được xem như một pháp nhân: Các quyết định của chính quyền như vậy cũng phải tuân thủ nguyên tắc hợp pháp như bao chủ thế pháp lý khác. Nguyên tắc này cho phép đóng khung hoạt động của quyền lực công và đặt hoạt động đó vào khuôn khổ của nguyên tắc pháp chế, vốn trước tiên dựa trên các nguyên tắc hiến định. Trong khuôn khổ đó, các cưỡng chế hướng lên Nhà nước sẽ mạnh mẽ: Các quy định mà Nhà nước đưa ra và các quyết định mà Nhà nước ban hành phải tuân thủ toàn thể các quy phạm pháp luật cao hơn đang có hiệu lực (các luật, điều ước quốc tế và các nguyên tắc mang tính Hiến pháp), không được quyền hưởng bất kì ưu tiên về mặt tài phán. Các cá nhân cũng như pháp nhân của luật tư như thế là đối lập tranh cãi với các quyết định của cơ quan công quyền bằng các đối lập với các quy phạm mà cơ quan này ban hành. Trong khuôn mẫu này, vai trò của các cơ quan tài phán là vô cùng cần thiết và sự độc lập của tư pháp là bắt buộc.

Sự độc lập của tư pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Để có được tầm ảnh hưởng trên thực tế, nguyên tắc của nhà nước pháp quyền được đảm bảo bởi sự hiện diện của các cơ quan tố tụng độc lập, có thẩm quyền tài phán đối với các tranh chấp giữa các chủ thể pháp lý khác nhau bằng cách áp dụng đồng thời nguyên tắc hợp pháp vốn có được từ sự tồn tại của một trật tự các quy phạm, và nguyên tắc bình đẳng vốn đối lập với sự xét xử phân biệt giữa các chủ thế pháp lý. Một mô hình như thể dẫn tới sự hiện diện của sự phân chia quyền lực và một hệ thống tư pháp độc lập. Thực tế thì, tư pháp là một phần của Nhà nước, tuy nhiên nó độc lập với quyền lập pháp và tư pháp và được đảm bảo bằng tính công minh của tư pháp trong việc áp dụng cả quy phạm pháp luật. Các cơ quan tư pháp phải đối chiếu các quy phạm khác nhau khi xét xử. Một hiệp ước trái với Hiến pháp có thể bị xem xét bởi cơ quan tư pháp và xem như không có hiệu lực, đó là một hình thức kiểm tra các công ước, tính hợp thức của các luật lệ và văn vản dưới luật được kiểm tra bởi một cơ chế bảo hiến phù hợp với mỗi quốc gia. Như vậy có thể nói Nhà nước pháp quyền đòi hỏi sự hiện diện của một cơ chế bảo hiến cũng như kiểm tra các điều ước..Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Khái niệm[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Điều 2 Hiến pháp 1992 (sửa đổi 2001) đã đưa ra khái niệm “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”. Tuy nhiên trên thực tế, không có sự giải thích rõ ràng về Nhà nước Pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa bằng văn bản. Khái niệm này lần đầu tiên được nhắc đến do ông Đỗ Mười tại Hội nghị lần thứ II, Ban chấp hành Trung ương khóa VII, ngày 29-11-1991[3]. Gần đây được bàn đến trong các cuộc họp cấp cao ở Việt Nam. Điển hình là trong bài diễn văn tại phiên khai mạc kỳ họp đầu tiên của QH khóa XII vào ngày 19/7/2007, ông Nông Đức Mạnh đã lần đầu tiên chính thức công bố nội dung của Học thuyết Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa. Theo quan điểm của GS.TS. Nguyễn Duy Quý, nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước (giống như kiểu nhà nước chiếm hữu nô lệ, kiểu nhà nước phong kiến, kiểu nhà nước tư bản chủ nghĩa hay kiểu nhà nước xã hội chủ nghĩa) mà là một phương thức tổ chức quyền lực nhà nước tiến bộ mà bất kì nhà nước nào, thể chế chính trị nào muốn đạt đến trình độ văn minh đều phải hướng tới.[4][5]

Nội dung có thể được tóm lược:

  • Quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng có sự phân công giữa các cơ quan nhà nước để thực hiện chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp.
  • Nhà nước quản lý đất nước và xã hội theo pháp luật do Quốc hội ban hành, trong đó hiến pháp và luật pháp là kết quả của sự thể chế hóa đường lối, quan điểm, chủ trương và chính sách của Đảng.
  • Thẩm quyền của Chính phủ được xác định trên cơ sở phân định những loại việc Chính phủ chủ động quyết định với những loại việc Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư trực tiếp quyết định hoặc cho ý kiến định hướng. Cũng tương tự như vậy, thẩm quyền của chính quyền địa phương được xác định trên cơ sở phân định những loại việc do hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân chủ động quyết định với những loại việc ban chấp hành và ban thường vụ đảng bộ quyết định hoặc cho ý kiến để hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân thực hiện.
  • Hoạt động tư pháp, kể cả việc đào tạo, quản lý và sử dụng đội ngũ cán bộ tư pháp, do Đảng lãnh đạo thông qua vai trò của cấp ủy và ban cán sự đảng ở các cơ quan tư pháp căn cứ quy định của Đảng.

Điều 2 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.

Như vậy, Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân; Nhà nước công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và nguyên tắc tập trung dân chủ; thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế[6].

Đặc trưng[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước:

  • Của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân;
  • Được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật; bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp và yêu cầu thượng tôn pháp luật trong đời sống nhà nước và xã hội.
  • Quyền lực nhà nước thống nhất có sự phân công, phối hợp và kiểm soát trong việc thực hiện 3 quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và nguyên tắc tập trung dân chủ.
  • Là nhà nước tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm các quyền con người, quyền công dân, tất cả vì hành phúc của con người.
  • Do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
  • Thuc hiện Đường LOI đổi Ngoại Hoa Binh, Hữu Nghị, hợp Tác Bình Đăng và Phát trien với Nhân Dân các Dân Toc và các nước trên Thế giới, đồng thời tôn Trọng các công UoC, điều UoC Quốc tế đã Tham Gia Ky Ket phê chuẩn.

Quan điểm xây dựng, hoàn thiện [sửa | sửa mã nguồn]

  • Dựa trên nền tảng tư tưởng Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
  • Thường xuyên tổng kết, rút ​​kinh nghiệm, sửa đổi i, tổ chức điều chỉnh, động của nhà nước.
  • Giữ vững bản chất giai cấp của Nhà nước Xã hội chủ nghĩa.
  • Right phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
  • Thận trọng, giữ vững chính trị, kinh tế…
  • Xây dựng hoàn thiện pháp luật và pháp luật hệ thống, tối ưu hóa tính toán của hiến pháp.
  • Build is the pentoza team, công năng, phẩm chất.

Định hướng [sửa | Chỉnh sửa mã nguồn]

  • Phát huy dân chủ, bảo đảm quyền thống trị của nhân dân, mọi quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân.
  • Buộc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức công tố.
  • Hoàn thiện tổ chức và tăng chất lượng, hiệu quả của bộ máy nhà nước.
  • Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ năng lực, phẩm chất đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa hợp hiến.
  • Đổi mới và tăng cường sự quản lý của Đảng nhằm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Ghi chú [sửa | Chỉnh sửa mã nguồn]

  1. ^   Judith N. Shklar (1987), “Lý thuyết chính trị và pháp quyền,” trong Hutchinson và Monahan (Eds.)   Quy tắc của pháp luật: Lý tưởng hay Ý tưởng   (Toronto: Carswell, 1987), tr. 1. Để thảo luận về quan điểm của Shklar, xem J. Waldron (2002), “Nhà nước pháp quyền có phải là một khái niệm gây tranh cãi về cơ bản không? (ở Florida) ”, trong   Luật & Triết học   , tập. Ngày 21 tháng 2 năm 2002. Xem thêm mục “khái niệm cơ bản gây tranh cãi”.
  2.   “Bản sao đã lưu trữ”. Ban đầu được lưu trữ vào ngày 24 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2007.
  3.   “Bản sao đã lưu trữ”. Ban đầu được lưu trữ vào ngày 27 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2007.
  4. ^   Nguyễn Duy Quý, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam – Một số câu hỏi lý luận và thực tiễn, Tạp chí Cộng sản số 96 năm 2005.
  5.   PGS. Dr. Đoàn Quang Thọ. “Khóa học Triết học. Chủ biên Lý luận chính trị. Hà Nội năm 2007 ”(PDF). Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2021.
  6.   GS.TS.PHÂN TRUNG LÝ Nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, NGUYỄN TRUNG THÀNH Phó Viện trưởng Viện Khoa học Môi trường và Xã hội. (Ngày 23 tháng 11 năm 2020). “Nhà nước bảo hiến xã hội chủ nghĩa Việt Nam và những vướng mắc trong việc thực hiện công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình”. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2020.

Xem thêm [sửa | Chỉnh sửa mã nguồn]

  • Luật ân xá
  • Quyền con người
  • Luật
  • Dân chủ Tự do
  • Tổ chức
  • Cảnh sát bí mật
  • Cảnh sát tiểu bang

Tài liệu tham khảo [sửa | Chỉnh sửa mã nguồn]

  • Luật Đại cương, Công thức của Doan, NXB Đại học Quốc gia TP.HCM, Số 1-4
  • Giáo trình Chính sách công, Nguyễn Văn Thảo, NXB Thống kê, Hà Nội, tháng 4 năm 2008.
  • Giáo trình Luật đại cương, Ngô Văn Tăng Phước, NXB Thống kê, Hà Nội, 2006.

Liên kết ngoài [sửa | Chỉnh sửa mã nguồn]

  • Về pháp quyền và pháp quyền Dr. Trần Thanh Hiệp
  • Hiến pháp Trí – Học viện Công dân ICEVN Lưu trữ 2008-05-11 tại Wayback Machine
  • http://www.tiasang.com.vn/news?id=1912 Lưu trữ ngày 25 tháng 10 năm 2007 tại Wayback Machine Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
  • Mạng lưới quốc tế thúc đẩy pháp quyền Mạng lưới quốc tế thúc đẩy pháp quyền, một hiệp hội của các công dân pháp quyền nhằm thúc đẩy thảo luận và hợp tác về các vấn đề liên quan đến việc xây dựng nhà nước pháp quyền.
  • Các nguyên tắc của luật pháp là gì? Lưu trữ 21/11/2009 tại Trung tâm Tài chính và Phát triển Quốc tế Wayback Machine Đại học Iowa
  • Bản phân tích bằng âm thanh hoặc văn bản về quy định của pháp luật của Lord Bingham of Cornhill (Lãnh chúa cấp cao của Kháng cáo trong Thông thường và hiệu quả là Chánh án Tòa án Tối cao Vương quốc Anh) có sẵn trong Trung tâm Luật Công (Lưu trữ 2007-01-08 tại .) có sẵn Wayback Machine (Trường Luật, Đại học Cambridge).
  • EQUITAS Rule of Law Commission (Canada District) Được lưu trữ vào ngày 5 tháng 5 năm 2008 tại Wayback Machine,   Công cụ Think Tanks về Quy tắc của Luật có trụ sở tại Canada   và nội dung thông tin hữu ích trong việc hỗ trợ phân tích so sánh các nguồn chính và phụ.
  • Các Chỉ số Quản trị Toàn cầu Các đánh giá trên toàn thế giới về hiệu quả hoạt động của quốc gia về pháp quyền và các khía cạnh quản trị khác từ năm 1996 đến nay.
  • Nhà nước pháp quyền trong hệ thống Vương quốc Anh Cách hiểu pháp quyền trong hệ thống Vương quốc Anh
ẩn  Chính trị • Chính trị • Chủ sở hữu chính trị
tổng quan hiện tại
hiện tại
Xã hội chính trị hiện tại
văn hóa chính trị hiện tại
Khoa học chính trị hiện nay
hiện chính trị theo khu vực

Loại:

  • cộng đồng
  • Khái niệm chính trị
  • Triết lý pháp lý
  • Khái niệm pháp lý

Các danh mục ẩn:

  • Các mẫu lưu trữ web với các liên kết quay lại


Video Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là gì

Cảm ơn các bạn đã theo dõi bài viết Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là gì ! Kỵ Sĩ Rồng hi vọng đã mang đến thông tin hữu ích cho bạn. Xem thêm các bài viết cùng danh mục Hỏi đáp. Mọi ý kiến thắc mắc hãy comment bên dưới, chúng tôi sẽ phản hồi sớm nhất có thể. Nếu thấy hay hãy chia sẻ bài viết này cho nhiều người được biết. Kỵ Sĩ Rồng chúc bạn ngày vui vẻ