Nội dung của chiếu khuyến nông là gì

Nội dung của chiếu khuyến nông là gì? Bạn tìm kiếm thông tin về . Kỵ Sĩ Rồng tổng hợp thông tin từ nhiều nguồn. Hi vọng sẽ hữu ích với bạn. Nào chúng ta bắt đầu thôi

Điều gì quy định về “sàng lọc tư vấn nông nghiệp” và nó hoạt động như thế nào?

chủ đề

Điều gì quy định về “sàng lọc tư vấn nông nghiệp” và nó hoạt động như thế nào? 

Giải thích chi tiết

Quang Trung ban hành “Chiếu khuyến nông” và lệnh cho dân chúng bỏ làng về quê cũ cày cấy, khai khẩn ruộng hoang. Với chính sách này, chỉ vài năm sau, mùa màng tươi tốt trở lại và làng xóm yên bình trở lại.

Loigiaihay.com Bài
tiếp theo

  • Việc vua Quang Trung mở biên giới nhà Thanh, mở cửa biển nước ta có ích lợi gì? Để giao thương thuận lợi, Quang Trung đã cho đúc tiền mới.
  • Vì sao vua Quang Trung coi trọng chữ Nôm Về văn hóa và giáo dục, vua Quang Trung đã dịch sách chữ Hán ra chữ Nôm và coi chữ Nôm là chữ quốc ngữ chính thức.
  • Em hiểu như thế nào về câu “Dựng nước trước hết là học”, đây là tư tưởng nhìn xa trông rộng của vua Quang Trung nói riêng và triều đại Tây Sơn nói chung
  • Giải bài 1 Trang 64 SGK Lịch Sử 4 Em hãy kể lại những chính sách kinh tế, văn hóa, giáo dục của vua Quang Trung.
  • Giải bài 2 Trang 64 SGK Lịch Sử 4 Đọc lại các bài học trước để giải thích vì sao Quang Trung ban hành các chính sách kinh tế, văn hóa.

>> Xem thêm Báo cáo lỗi – Bình luận

Mục đích mở mang nông nghiệp của vua Quang Trung là gì?

câu hỏi

Mục đích mở mang nông nghiệp của vua Quang Trung là gì?

  •  A. Xoá đói giảm nghèo trên cả nước.
  •  B. Tạo công ăn việc làm cho nông dân.
  •  C. Giải quyết vấn đề tước đoạt ruộng đất của địa chủ đối với nông dân.
  •  D. Giải quyết tình trạng ruộng đất bỏ hoang, dân lưu đày sau chiến tranh.

câu trả lời và câu trả lời

Vua Quang Trung đã ban hành sắc lệnh khuyến nông nhằm giải quyết tình trạng ruộng đất bỏ hoang, lưu dân sau chiến tranh. Câu trả lời đúng: D

Học mới nhất

 0 ngôn ngữ

Khuyến nông Việt Nam

Wikipedia, bách khoa toàn thư miễn phí

Khuyến nông ở Việt Nam   là các hoạt động và chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp ở Việt Nam. Khuyến nông Việt Nam có quá trình phát triển lâu đời gắn liền với lịch sử phát triển của nền nông nghiệp Việt Nam. Thời kỳ phong kiến ​​[sửa | chỉnh sửa mã nguồn]

Chú giải [sửa | chỉnh sửa mã nguồn]

Khuyến nông [sửa | chỉnh sửa mã nguồn]

Hoạt động khuyến nông ở Việt Nam bắt nguồn từ truyền thuyết vào buổi bình minh của lịch sử, khi các Vua Hùng dựng nước Văn Lang. Thuở ấy, Vua Hùng Vương đã dạy dân xã Minh Nông (Vĩnh Phúc ngày nay) trồng lúa, người dân nơi đây đã biết trồng lúa theo thủy triều lên xuống, ít lâu sau cây lúa trở thành cây trồng chính của Quốc gia. Vùng này. [Đầu tiên]

Truyền thuyết kể lại rằng: “Trước đây, người dân chưa biết cày, cấy để sản xuất lúa ăn, chỉ sống bằng thịt thú rừng, rễ cây, rau rừng và hái lượm lúa rừng. Vùng đất ven sông mỗi khi nước lên, phù sa càng thêm màu mỡ. Vua Hùng thấy thế đất rất tốt bèn cho gọi dân bảo hãy tìm cách đắp bờ để bảo vệ đất nước. Vua thấy lúa mọc hoang bèn bày cách cho dân giữ giống, gieo giống. Khi cây mạ hồi xanh thì cấy ra ruộng có tưới nước. Lúc đầu, dân chúng chưa biết cấy nên đã xin vua. Vua Hùng nhổ cây con, đem ra ruộng, lội xuống trồng cho dân chúng xem, mọi người làm theo.

“Một hôm, các con gái của Vua Hùng theo dân đi đánh cá bên sông, thấy chim bay quanh bãi thành từng đàn, nhảy nhót trong cỏ, cả người đều vui mừng. Có một nàng công chúa đang mải mê ngắm chim dừng lại giăng lưới, bỗng có một con chim làm rơi một bông hoa kê trên tóc nàng. Công chúa đem kê dâng vua Hùng. Nhà vua mừng vì đó là điềm lành, nghĩ chim ăn được hạt này thì người cũng ăn được nên bảo Mỵ Nương ra bãi biển nhổ hoa kê đem về.

Vào mùa xuân, vua đem hạt kê ra và bảo các công chúa gọi dân chúng đi hái kê. Dân chúng vui mừng đưa Vua ra đồng. Người đánh trống và người đi đầu, người gánh gạo và kê, Vua, Mỵ Nương và dân chúng theo sau. Tại bến sông, Vua xuống bãi lấy que nhọn chọc lỗ tìm hạt lúa rồi gieo kê trên bãi. Khi trồng xong, Vua trồng một cành tre để không cho chim ăn hạt. Mỵ Nương theo Vua cấy lúa, gieo kê, trồng tre khắp đồng, khắp bãi. (  Theo Nguyễn Khắc Xương   – Truyền thuyết Hùng Vương, khoa cử Đền Hùng năm 2003). [2]

In gratitude to King Hung, the people honored him as a farming nest, often called Shen Nong. Built a zither with his back to the southwest right on the mother land where the King sat while teaching people to plant rice for worship. The ancient Vietnamese started worshiping Shen Nong from that time. [first]

Khuyến nông dâu, tằm[sửa | sửa mã nguồn]

Công chúa Thiều Hoa, con Vua Hùng thứ 6 giúp nông dân vùng bãi sông Hồng thuộc huyện Ba Vì (Hà Nội) nghề trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa. Truyện kể rằng công chúa là người hiền lành, xinh đẹp nhưng lại không chịu lấy chồng. Nàng từ chối ý định gả chồng của vua cha và sang sống ở trang trại khác. Nàng có biệt tài nói chuyện với chim và bướm mỗi khi vào rừng chơi. Một lần nói chuyện với bướm nâu, biết bướm nâu chỉ ăn một thứ lá dâu để đẻ ra trứng rồi nở thành sâu, nhả ra sợi vàng. Bướm đưa Thiều Hoa ra bãi dâu ven sông thấy hàng ngàn con sâu đang làm kén. Thiều Hoa xin bướm giống trứng và sâu ấy cũng như hỏi bướm cách kéo tơ rồi tìm cách đan chúng thành những mảnh, tấm nõn nà vàng tươi. Nàng đặt tên cho những tấm sợi ấy là lụa. Chính cái tên Thiều Hoa gọi bướm là ngài và giống sâu cho sợi ấy là tằm còn gọi đến ngày nay. Sau kỳ tích ấy Thiều Hoa đem truyền dạy cho mọi người trồng dâu, chăn tằm, kéo sợi, dệt lụa. Tấm lụa đầu tiên nàng đem tặng Vua cha. Hùng Vương khen ngợi con gái yêu và truyền cho dân chúng theo đó mà dệt lụa. Nhớ ơn Thiều Hoa công chúa, dân làng Cổ Đô, Vân Sa… tôn bà làm tổ sư nghề dệt lụa, làm thành hoàng làng của mình và lập đền thờ cúng hàng năm.[3]

Lễ hội Tịch điền[sửa | sửa mã nguồn]

Lễ tịch điền là ngày lễ khởi đầu việc làm ruộng trong năm (Thửa ruộng nào vua thân chinh dẫm xuống cày gọi là tịch điền 籍田), mang ý nghĩa khuyến nông, được nhiều triều đại coi trọng, thực hiện hàng năm[cần dẫn nguồn], đó là một lễ hội do nhà vua đích thân khai mạc, xuống ruộng đi cày và tế lễ cầu cho mưa thuận gió hòa.

Lễ hội Tịch điền được sử sách ghi chép lại lần đầu tiên vào năm Thiên Phúc thứ 8 (987) thời Tiền Lê, vua Lê Đại Hành cày ruộng tịch điền ở Đọi Sơn[4][5]. Sử sách chép lại: Năm 987, vua Lê Đại Hành cày ruộng đã phát hiện được một hũ vàng, sau lại cày thửa ruộng khác lại được một hũ bạc. Vì thế mà những thửa ruộng này được đặt tên là  “Kim Ngân điền”[4]. Chắc số vàng, bạc này do vua đã cho người chôn sẵn, nhằm khích lệ người ham cày ruộng thì có ngày sẽ “bắt được vàng”[cần dẫn nguồn]. Có ý nghĩa sâu hơn nữa là: siêng năng cày cấy sẽ tạo nên của cải[cần dẫn nguồn].

Thời nhà Lý, lễ tịch điền được coi như ngày lễ hội chính của quốc gia[cần dẫn nguồn]. Vua Lý Thái Tông trong thời gian trị vì đã nhiều lần xuống ruộng tự cầm cày trong ngày lễ hội (năm 1030, 1032, 1038, 1042)[6], làm lễ tế Thần Nông cầu cho mưa thuận gió hòa mùa màng tươi tốt. Theo sách Việt sử lược, trang 255 có ghi: “Mùa hạ tháng 4 năm Nhâm Thân (1032), vua cày Tịch điền ở Tín Hương – Đỗ Động Giang, có nhà nông dâng vua một cây lúa chiêm có 9 bông thóc, vua xuống chiếu đổi gọi ruộng ấy là ruộng Ứng Thiên”; trang 259 ghi như sau: “Mùa xuân tháng 2 năm Mậu Dần (1038), vua ngự ra cửa Bố Hải cày ruộng Tịch điền. Vua sai hữu ty dọn cỏ đắp đàn vua thân tế Thần Nông, tế xong, vua tự cầm cày để làm lễ tự cày. Các quan tả hữu có người can rằng – Đó là việc của nông phu, bệ hạ cần gì làm thế? Vua nói: Trẫm không tự cày thì lấy gì làm xôi cúng, lấy gì cho thiên hạ noi theo? Nói xong vua đẩy cày 3 lần rồi thôi”. Sử cũng ghi chép về việc cày tịch điền của vua Lý Anh Tông năm 1148[7].

Xem thêm:  Đêm giao thừa có tên gọi khác là gì

Đời Hậu Lê năm Hồng Đức thứ 4 (1473), đầu xuân, vua và các quan cúng tế Thần Nông, làm lễ Tịch điền, nhà vua đích thân cày ruộng[8]. Đại Việt sử ký toàn thư cũng ghi chép về các lần cày tịch điền của các vua Lê Hiến Tông năm 1499, Lê Uy Mục năm 1509[9], Lê Tương Dực năm 1514[10]

Nhà Nguyễn, đời Minh Mạng, nhằm khuyến khích người dân cày ruộng, nhà vua xuống Dụ xem việc khôi phục Lễ tịch điền (nhà vua đích thân xuống ruộng cày) là “thực là chính sự quan trọng của đấng vương giả“. Minh Mạng xét lại các nghi thức cử hành đại lễ này dưới các triều đại trước và cho rằng nghi lễ cón quá giản lược, vì thế vào năm 1828, nhà vua giao cho bộ Lễ soạn thảo chu đáo các điển lễ làm thành luật lệ lâu dài, và đại lễ kéo dài 5 ngày được tổ chức hàng năm vào tháng 5 âm lịch. Trong ngày lễ tịch điền, nhà vua tự mình cầm cày 3 đường đầu tiên, rồi đến các quan và hoàng thân quốc thích cày tiếp. Vào thời này, việc tổ chức lễ tịch điền được giao cho bộ Lễ, họ kết hợp với các quan lại và chuẩn bị hết sức chu đáo. Các đời vua Tự Đức, Thành Thái, Duy Tân, Khải Định… đều tổ chức lễ Tịch điền hàng năm. Ý nghĩa của Lễ Tịch điền được vua Thiệu Trị thể hiện trong bài Thường Mậu quan canh, nhân một lần lên đài quan canh xem các quan cày ruộng:

“Chót vót lầu cao giữa khoảng không

Nhìn xa quang cảnh chốn nương đồng

Ba đường dẫn lối khuyên cày cấy

Năm tháng thương người trọng việc nông”.

“Lễ tịch điền nêu cao truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, vua cũng như dân đều yêu mến làm việc, yêu mảnh đất sống và cần cù làm việc trên mảnh đất này. “Phi nông bất ổn” (không có nông nghiệp, xã hội không ổn định), cha ông ta ý thức được tầm quan trọng nên chính các vua chúa đã khuyến khích việc làm ruộng bằng gương sáng tự cày cấy khai mùa, các vị xem đây “thực là chính sự quan trọng của đấng vương giả”, đất nước ta “tuy có cảnh tình, mây lành, chim phụng, kỳ tập, kỳ lân ra đời, chẳng bằng được mùa là điềm lành trên hết!” (lời Vua Minh Mạng). Chúng ta không phân biệt sang hèn, nhưng luôn trân trọng nhớ ơn những người “chân lấm tay bùn” làm nên lúa gạo sản phẩm nuôi sống mình, tô đẹp quá khứ và kiến tạo tương lai, xây dựng lòng tự hào của dân tộc chúng ta”.[11]

Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã xuống ruộng để cày làm nức lòng nhân dân miền bắc Xã hội chủ nghĩa. Năm 2009, sau gần 100 năm ngừng tổ chức, nghi lễ này chính thức được tái hiện tại Đọi Sơn thuộc tỉnh Hà Nam vào mùng 5-7 tháng giêng, từ năm 2010 có sự tham gia của chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết [12] và Trương Tấn Sang[13].

Cơ quan chuyên môn[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1226, nhà Trần thành lập 03 tổ chức: Hà đê sứ (lo việc phòng chống lụt, bão), Đồn điền sứ (quản lý đất đai) và Khuyến nông sứ (giúp dân phát triển sản xuất nông nghiệp)

Chiếu Khuyến nông[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1065, Lý Thánh Tông hạ chiếu khuyến nông.[14] 

Giai đoạn 1114 – 1493, Vua Lê Nhân Tông, Lê Thánh Tông đã 17 lần ban Chiếu khuyến nông tạo điều kiện khuyến khích nông dân tăng gia sản xuất. Trong đó có nhiều bản chiếu, chỉ dụ (Chiếu khuyến nông, Chiếu lập đồn điền…) do chính Vua Lê Thánh Tông trực tiếp chấp bút và ban bố.

Năm 1789, Vua Quang Trung ban hành “Chiếu Khuyến nông” [15]

Nhà Nguyễn[sửa | sửa mã nguồn]

Vua Gia Long đã bắt đầu thi hành các chính sách phát triển nông nghiệp, không bỏ hoang hóa đất đai, nỗ lực tổ chức khai hoang, lập đồn điền để phát triển nghề nông. Ở Nam Bộ, người dân đã tự do đến khẩn hoang với tư cách cá nhân hoặc tập thể dưới sự giúp đỡ của triều đình. Sử sách ghi lại tên tuổi người đã có công trong việc đào kênh, vỡ đất trong thời kỳ đầu là Thoại Ngọc Hầu. Hai vị quan tổ chức khẩn hoang nổi tiếng nhất sau đó là Nguyễn Công Trứ và Nguyễn Tri Phương; trong đó Nguyễn Công Trứ nổi lên vì là tác giả của ba chính sách khẩn hoang lớn: đồn điền, doanh điền và khai khẩn ruộng hoang.

Đồn điền: Chính sách này chủ yếu dựa vào việc mộ dân nghèo (cả người Việt và người Hoa), đi cùng với tội phạm và các binh sĩ để thực hiện việc khai khẩn đất hoang. Trong thời gian khẩn hoang số dân này sẽ được quản lý theo cung cách đồn điền không giống như thôn ấp bình thường; sau một khoảng thời gian từ sáu đến mười năm để cuộc sống ổn định thì sẽ chuyển sang hình thức làng xã, ruộng đất do xã quản lý và nộp thuế. Đồn điền xuất hiện nhiều nhất ở vùng Gia Định. Đợt lập đồn điền lớn nhất do Kinh lược sứ Nam Kì là Nguyễn Tri Phương tổ chức vào năm 1853-1854, lập được 21 cơ, 124 ấp phân phối ở cả sáu tỉnh.

Doanh điền: Đây là hình thức triều đình và nhân dân cùng kết hợp khai hoang, mới ra đời từ thời Nguyễn theo đề xuất của Tham tán quân vụ Bắc thành Nguyễn Công Trứ. Chính sách này nhằm di dân để lập ấp mới, bắt đầu thực hiện từ năm 1828 dưới thời vua Minh Mạng. Triều đình sẽ bỏ vốn ban đầu và cử ra một quan chức sẽ dứng ra chiêu mộ và chỉ đạo dân chúng đưa đi khai hoang theo hai trường hợp: Số dân mộ được là 50 người đủ một lý, người đứng ra mộ sẽ được ban chức lý trưởng; Số dân mộ được là 30 người đủ một ấp, người đứng ra tuyển một sẽ được ban chức ấp trưởng. Thời gian sáu tháng ban đầu, triều đình sẽ cấp cho dân chúng đi khai hoang đầy đủ lương thực và phương tiện sản xuất. Từ tháng thứ bảy thì phải tự lo. Triều đình sẽ miễn thuế cho các ấp và lý mới này 3 năm.

Xem thêm:  Máy tính cầm tay tiếng anh là gì

Được sự chuẩn y của Minh Mạng, Nguyễn Công Trứ đã tổ chức nhiều đợt khai hoang lập làng lớn, trong đó lớn nhất là việc thành lập 2 huyện mới: huyện Tiền Hải thuộc tỉnh Thái Bình với 18.970 mẫu và 2350 đinh, huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình với 14.620 mẫu và 1260 đinh. Cũng từ đây xuất hiện hai hình thức tư điền thế nghiệp và tư điền quân cấp.

Tổng Giao Thủy thuộc Nam Định cũng được thành lập theo hình thức này. Về sau, các quan ở Gia Định gồm Trương Minh Giảng, Cao Hữu Dực, Trần Hoàn, Phạm Hữu Chỉnh và Nguyễn Tri Phương cũng bắt chước thực thi chính sách này trên vùng Gia Định đồng thời với chính sách đồn điền trên một quy mô rất lớn và thu được nhiều thành công và hiệu quả, diện tích ruộng đất đã tăng lên rất nhiều. Diện tích ruộng đất thực trưng tăng lên nhiều: năm 1847 là 4.273.013 mẫu.

Chính sách đồng điền và doanh điền được triều đình kèm theo một loạt luật lệ thưởng phạt phân minh để khai thác triệt để đất đã vỡ hoang và ngăn tình trạng bỏ đất nhưng cũng không dứt hẳn được hiện tượng ruộng hoang.

Thời kỳ này, người nông dân luôn biết tận dụng kinh nghiệm trong việc đồng áng với câu đúc kết chủ đạo của nghề nông: “nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”. Quy trình sản xuất gồm có: gieo hạt, cày bừa, cấy lúa, làm cỏ, bỏ phân, tát nước… Việc nhân giống được phát huy, người nông dân đã có được 65 giống lúa tẻ và 27 giống lúa nếp, trong đó có những giống ngắn ngày chỉ còn 3-4 tháng (tính từ khi cấy đến khi gặt thì ngắn hơn, chỉ hơn 40 ngày, gọi là lúa câu). Điểm hạn chế là trong khi tạo ra được nhiều giống múa mới cho gạo thơm, dẻo ngon thì người nông dân lại không có biện pháp tăng năng suất lúa. Ngoài lúa, người nông dân còn canh tác thêm nhiều loại cây lương thực như khoai, sắn, ngô, kê, bo bo, đậu… Kinh tế vườn rất phát triển, đặc biệt là ở Nam Bộ. Hàng loạt cây rau, củ, bí bầu, hoa quả được trồng trọt, trong đó có một số giống nhập khẩu như cà phê, nho, hồ tiêu, đậu Hà Lan…

Gia Long và các vị vua kế tục tiếp tục thi hành chính sách phát triển nông nghiệp khá đa dạng, ruộng đất được khai hoang, mở rộng; việc sản xuất lúa gạo ở vùng Gia Định tăng cao. Phương thức sản xuất lúa gạo đại trà, bứt phá khỏi cảnh sản xuất manh mún nhỏ lẻ thì đó là mặt đổi mới cực kỳ tích cực.Giai đoạn 1945 – 1993[16][sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 1945, Đảng, Chính phủ và Hồ Chủ tịch thường xuyên quan tâm chỉ đạo và ban hành nhiều chính sách khuyến nông nhằm khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp, cải thiện đời sống nông dân.

Tháng 4/1945, Hồ Chủ tịch căn dặn cán bộ: “Các chú ra về phải làm tốt công tác khuyến nông, ra sức phát triển nông nghiệp, chống giặc đói, diệt giặc dốt, thực hiện “Hũ gạo tiết kiệm””.

Nghị định số 41 BKT ngày 15/11/1945 của Bộ Kinh tế Quốc dân quy định một số biện pháp để khuyến khích tận dụng đất đai trồng màu cứu đói[17][18]. Vì trâu bò bị chết nhiều qua nạn đói và nạn lụt (chỉ riêng trong nạn đói đầu năm 1945, 30 vạn con trâu bò đã bị chết, bằng 2/3 tổng số trâu bò cày kéo thời gian đó) nên sức kéo khan hiếm nghiêm trọng. Để khắc phục khó khăn này, các địa phương phải tổ chức sản xuất các loại nông cụ nhỏ và nhẹ để có thể sử dụng sức người thay cho sức trâu bò; Nhà nước trực tiếp động viên các nhà kỹ nghệ cấp tốc sản xuất thêm nông cụ và bán ủng hộ cho nông dân (bán không lấy lãi, có trường hợp không tính công sản xuất, chỉ tính chi phí nguyên liệu); Hủy bỏ những quy định cũ của Pháp, Nhật cấm buôn bán trâu, bò trong nội địa. Cho tự do buôn bán, vận chuyển trâu, bò trong cả nước.

1950 – 1957, Chính phủ ban hành các chính sách khuyến nông; thực hiện cải cách ruộng đất, tịch thu ruộng đất của thực dân Pháp và Việt gian chia cho nông dân thiếu ruộng; chia lại ruộng đất công một cách công bằng, hợp lý hơn.[19]

Từ 1956 -1958, Chính phủ thực hiện vận công, đổi công, nông dân giúp nhau.    

Năm 1960, Miền Nam thành lập Nha Khuyến nông, Miền Bắc thành lập các Hợp tác xã nông nghiệp[19]. Công tác khuyến nông giai đoạn này chủ yếu chuyển giao đến hợp tác xã. Phương pháp khuyến nông chủ yếu là đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, xây dựng các mô hình hợp tác xã tiến bộ.    

Năm 1963 – 1973, Bộ Nông nghiệp tổ chức các đoàn cán bộ chỉ đạo sản xuất nông nghiệp hỗ trợ các tỉnh.    

Năm 1981, Chỉ thị khoán 100 ra đời. Năm 1988, Nghị quyết 10 ra đời (khoán 10).[20]    

Năm 1988, An Giang thành lập Trung tâm Khuyến nông.[21]    

Năm 1991, Bắc Thái thành lập Trung tâm Khuyến nông.[22] Tổ chức Khuyến nông Thái Nguyên (trước đây là Khuyến nông Bắc Thái) được thành lập ngày 13/12/1991 do UBND tỉnh Quyết định; là tổ chức khuyến nông đầu tiên của cả nước (Trước khi có nghị định số 13 của CP về khuyến nông);  ra đời nhằm  phục vụ các  chương trình phát triển nông nghiệp của tỉnh. Với cơ chế hoạt động: Lấy nông thôn làm địa bàn –Nông dân là đối tượng – Các ngành nghề trong nông nghiệp là lĩnh vực phát triển- Người nông dân được xác định là trung tâm. Qua hơn 20 năm hoạt động khuyến nông Thái Nguyên không ngừng  phát triển,  ngày càng được tăng cường về lực lượng, cơ sở vật chất;  được  các tổ chức quốc tế CIDSE, SNV  hợp tác và hỗ trợ nâng cao năng lực, phát triển hệ thống khuyến nông từ tỉnh cho đến cấp xã và thôn, bản. Toàn tỉnh hiện có 142 cán bộ khuyến nông, ở cấp tỉnh là Trung tâm Khuyến nông trực thuộc Sở Nông nghiệp & PTNT gồm 24 cán bộ với 3 phòng chuyên môn và 01 trạm chuyên giao TBKT; ở cấp huyện là các Trạm Khuyến nông trực thuộc UBND của 9 huyện, thành, thị có 118 cán bộ. Ở cấp cơ sở xã, phường, thôn, bản tùy điều kiện của các địa phương và từng chương trình nông nghiệp trên địa bàn để bố trí lực lượng cộng tác viên khuyến nông là cán bộ thôn, bản, tổ hợp tác, nhóm sở thích hoặc nông dân đầu mối tham gia hoạt động.    

Năm 1992, Bộ Nông nghiệp và PTNT thành lập Ban điều phối Khuyến nông.    Giai đoạn 1993 – 2004[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 01/3/1993, Chính phủ ban hành Nghị định số 13/NĐ- CP về Khuyến nông, hệ thống khuyến nông chính thức được hình thành và phát triển.[23]

Ở Trung ương, giai đoạn 1993- 2004, Cục Khuyến nông – Khuyến lâm thuộc Bộ Nông nghiệp thực hiện cả hai chức năng quản lý nhà nước về sản xuất nông nghiệp và hoạt động sự nghiệp khuyến nông; Vụ Nghề cá thuộc Bộ Thủy sản cũng thực hiện lẫn nhiệm vụ quản lý nhà nước và công tác khuyến ngư.Giai đoạn 2005 – 2010[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm:  Cung bọ cạp còn có tên gọi khác là gì

Năm 2005, Chính phủ ban hành Nghị định số 56/2005/NĐ – CP về Khuyến nông, Khuyến ngư, ở trung ương: Trung tâm Khuyến nông Quốc gia thành lập (tách từ Cục Khuyến nông và Khuyến lâm) trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Trung tâm Khuyến ngư thuộc Bộ Thủy sản.[24]

Đến năm 2008, khi hợp nhất Bộ Nông nghiệp và PTNT và Bộ Thủy sản, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia và Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia cũng hợp nhất thành Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư Quốc gia.Hoạt động Khuyến nông ngày nay[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 28/6/2010, Chính phủ ban hành Nghị định số 02/2010/NĐ-CP về Khuyến nông thay Nghị định số 56/2005/NĐ-CP, cơ quan Khuyến nông trung ương chính thức là Trung tâm Khuyến nông Quốc gia thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT. Theo đó, nội dung hoạt động khuyến nông ngày nay như sau:

Mục tiêu[sửa | sửa mã nguồn]

1. Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của người sản xuất để tăng thu nhập, thoát đói nghèo, làm giàu thông qua các hoạt động đào tạo nông dân về kiến thức, kỹ năng và các hoạt động cung ứng dịch vụ để hỗ trợ nông dân sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao, thích ứng các điều kiện sinh thái, khí hậu và thị trường.

2. Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng phát triển sản xuất hàng hóa, nâng cao năng suất, chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu; thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nông thôn mới, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, ổn định kinh tế – xã hội, bảo vệ môi trường.

3. Huy động nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tham gia khuyến nông.

Arbeitsprinzip [ bearbeiten | Quellcode bearbeiten ]

1. Xuất phát từ nhu cầu của nông dân và nhu cầu phát triển nông nghiệp của nhà nước.

2. Phát huy vai trò chủ động, tích cực và sự tham gia tự nguyện của nông dân vào các hoạt động tư vấn nông nghiệp.

3. Liên kết chặt chẽ giữa cơ quan quản lý, viện nghiên cứu khoa học, công ty với nông dân và giữa nông dân với nông dân.

4. Xã hội hóa hoạt động tư vấn nông nghiệp, đa dạng hóa các dịch vụ tư vấn nông nghiệp, huy động nguồn lực của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia hoạt động tư vấn canh tác.

5. Dân chủ, Cởi mở, Giám sát cộng đồng.

6. Nội dung, phương pháp khuyến nông phù hợp với từng vùng, miền, đối tượng nông dân, cộng đồng dân tộc khác nhau.

Nội dung hoạt động [Chỉnh sửa | chỉnh sửa mã nguồn]

Đào tạo, giáo dục, thăng tiến [sửa | chỉnh sửa mã nguồn]

xúc tiến và đào tạo người sản xuất liên quan đến các chủ trương và luật pháp; Giáo dục, tập huấn nghiệp vụ cho nông dân về kỹ năng sản xuất, tổ chức và quản lý sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực tư vấn nông nghiệp theo quy định tại Khoản 1 Điều 1 Nghị định này; Đào tạo cố vấn nông nghiệp để nâng cao trình độ chuyên môn.

Hình thức đào tạo: bằng mô hình trình diễn; Tổ chức các khóa học ngắn hạn gắn lý thuyết với thực hành; Qua các phương tiện: báo, đài, tờ rơi, tài liệu (sách, đĩa CD-DVD); Xây dựng kênh truyền hình về nông nghiệp, nông dân, nông thôn thông qua chương trình đào tạo từ xa trên đài phát thanh và truyền hình; Ưu tiên đào tạo nông dân trên TV; Qua trang web tư vấn nông nghiệp; Tổ chức khảo sát, học tập trong và ngoài nước.

Tuyên truyền [sửa | chỉnh sửa mã nguồn]

1. Tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước thông qua hệ thống thông tin đại chúng và các tổ chức chính trị – xã hội.

2. Phổ biến tiến bộ khoa học và công nghệ, các điển hình tiên tiến trong sản xuất và kinh tế thông qua hệ thống thông tin đại chúng, tạp chí tư vấn nông nghiệp, tạp chí tư vấn nông nghiệp, biên tập và phát hành các ấn phẩm tư vấn nông nghiệp.

3. Xây dựng và quản lý dữ liệu thông tin hệ thống thông tin tư vấn nông nghiệp (mô hình tư vấn nông nghiệp công nghệ cao)

Trình diễn và nhân rộng mô hình [sửa | chỉnh sửa mã nguồn]

1. Xây dựng các mô hình trình diễn tiến bộ khoa học và công nghệ phù hợp với từng địa bàn, nhu cầu của nhà sản xuất và hướng của ngành, mô hình thực hành sản xuất tốt gắn với

2. Phát triển các mô hình ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp.

3. Hình thành mô hình tổ chức, quản lý sản xuất nông nghiệp và kinh doanh nông nghiệp hiệu quả, bền vững.

4. Chuyển giao kết quả khoa học và công nghệ từ các mô hình trình diễn, mô hình điển hình tiên tiến sản xuất quy mô lớn. Nhận xét [Chỉnh sửa | chỉnh sửa mã nguồn]

  1. ^   a   b   “Lễ Vua Hùng dạy dân trồng lúa ở Minh Nông – Việt Trì”. Ban đầu được lưu trữ ngày 25 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2015.
  2.   “Vị Vua Anh Hùng Dạy Dân Trồng Lúa”.
  3.   “Đội thợ dệt lụa”. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2015.
  4. ^   a   b   Dai Viet Su Ky Das Ky Toan Do. Buch I, Le Dynastie: Kaiser Dai Hanh.
  5.   “Lễ Tịch điền thờ Thần Nông”.
  6. ^   Dai Viet Su Ky Das Ky Toan Do. Buch II, Ky-Dynastie: Thai To Hoang De.
  7. ^   Dai Viet Su Ky Das Ky Toan Do. Quyển IV, đời Kỷ: Anh Tống Hoàng Đế.
  8. ^  Dai Viet Su Ky Der Ky Thuc Luc. Buch XIII, Le Dynasty: Kaiser Thanh Tong Thuan (Sommer) .
  9. ^   Dai Viet Su Ky Der Ky Thuc Luc. Quyển XIV, triều Lê: Kaiser Hiến Tông Duệ và Uy Mục Đế.
  10. ^   Dai Viet Su Ky Der Ky Thuc Luc. Quyển XV, Vương triều: Kaiser Tương Dực.
  11.   “Lễ tưởng niệm Chủ tịch nước”.
  12. ^ “Đầu năm tôi ra đồng xem   ‘vua cày’. Ban đầu được lưu trữ ngày 18 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2015. 
  13.   “Chủ Tịch Nước Đi Cày Lễ Lên Đồng”.
  14.   “Kinh tế Đại Việt thời Lý”.
  15.   “Hoàng đế Quang Trung với sự phát triển của nông dân”.
  16.   “Giáo trình Khuyến nông”.
  17.   “Tăng sản lượng nông nghiệp”. Ban đầu được lưu trữ ngày 22 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2015.
  18.   “Công báo ngày 1 tháng 12 năm 1945”.
  19. ^   a   b   “Luật Đất đai Việt Nam 1945 – 2010”. [   Liên kết bị lỗi   ]
  20.   “Cải cách chính sách quản lý nông nghiệp ở Việt Nam” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2015.
  21.   | NongNghiep.vn „Khuyến nông An Giang“.
  22.   “Khuyến nông Thái Nguyên”. [   Liên kết Defekter   ]
  23.   “Nghị định 13-CP”.
  24.   “Nghị định 56/2005 / NĐ-CP”.

Danh mục:

  • Văn hóa việt nam

Các danh mục ẩn:

  • Đăng với liên kết bị hỏng
  • Lỗi CS1: URL
  • Các bài báo có trích dẫn không khớp
  • Mục cần một kiểu chỉnh sửa


Video Nội dung của chiếu khuyến nông là gì

Cảm ơn các bạn đã theo dõi bài viết Nội dung của chiếu khuyến nông là gì! Kỵ Sĩ Rồng hi vọng đã mang đến thông tin hữu ích cho bạn. Xem thêm các bài viết cùng danh mục Hỏi đáp. Mọi ý kiến thắc mắc hãy comment bên dưới, chúng tôi sẽ phản hồi sớm nhất có thể. Nếu thấy hay hãy chia sẻ bài viết này cho nhiều người được biết. Kỵ Sĩ Rồng chúc bạn ngày vui vẻ

Related Posts